MasterSchool

Lịch sử lớp 11 · KNTT · Chương 3

Lý thuyết Lịch sử 11 Bài 6: Hành trình đi đến độc lập dân tộc ở Đông Nam Á

Chương 3: Quá trình giành độc lập dân tộc của các quốc gia Đông Nam Á · Kết nối tri thức với cuộc sống

Tóm tắt lý thuyết Lịch sử 11 Bài 6: Hành trình đi đến độc lập dân tộc ở Đông Nam Á theo chương trình SGK Kết nối tri thức với cuộc sống. Hệ thống hoá toàn bộ kiến thức trọng tâm, tranh ảnh tư liệu SGK sắc nét, bảng biểu so sánh trực quan và bộ câu hỏi ôn tập có đáp án chi tiết.

Lớp

I. Phong trào đấu tranh chống thực dân xâm lược ở Đông Nam Á

a) Đông Nam Á hải đảo

- Phong trào chống thực dân xâm lược ở Đông Nam Á bùng nổ từ rất sớm, tiêu biểu là ở Inđônêxia và Philíppin.

+Ở Inđônêxia:từ cuối thế kỉ XVI, phong trào đấu tranh chống thực dân Hà Lan bùng nổ mạnh mẽ, tiêu biểu là: khởi nghĩa của Hoàng tử Đi-pô-nê-gô-rô (1825 - 1830). Sau cuộc khởi nghĩa này, phong trào đấu tranh vẫn tiếp tục lan rộng khắp các đảo ở Inđônêxia, kéo dài đến cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX.

Lãnh tụ Xu-các-nô đọc bản Tuyên ngôn Độc lập của In-đô-nê-xi-a ngày 17/8/1945 tại thủ đô Gia-các-ta
Lãnh tụ Xu-các-nô đọc bản Tuyên ngôn Độc lập của In-đô-nê-xi-a ngày 17/8/1945 tại thủ đô Gia-các-ta

+Ở Phi-líp-pin:cuộc đấu tranh chống thực dân Tây Ban Nha bùng nổ ở Philíppin từ năm 1521, rộng ra các đảo khác và kéo dài hơn ba thế kỉ. Trong số đó, cuộc khởi nghĩa của Đa-ga-hô ở Bô-hô là cuộc khởi nghĩa kéo dài nhất (1744 - 1829).

b) Đông Nam Á lục địa

-Ở Miến Điện:

+ Thực dân Anh phải trải qua 3 cuộc chiến tranh kéo dài hơn 60 năm (1821 - 1885) mới chiếm được Miến Điện.

+ Phong trào chiến tranh du kích lan rộng trong cả nước, khiến cho thực dân Anh bị tổn thất nặng nề.

+ Sau khi hoàn thành quá trình xâm lược, thực dân Anh phải tiếp tục đối phó với cuộc chiến tranh du kích kéo dài hơn 10 năm sau.

-Trên bán đảo Đông Dương, từ nửa sau thế kỉ XIX, phong trào chống thực dân Pháp xâm lược cũng từng bước lan rộng.

+Ở Việt Nam,từ năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, chúng đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của nhân dân Việt Nam. Thực dân Pháp phải mất 26 năm (1858 - 1884) mới áp đặt được ách đô hộ trên toàn bộ đất nước Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) ngày 2/9/1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) ngày 2/9/1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Chân dung Nguyễn Trung Trực và tranh minh họa chiến thắng trên sông Nhật Tảo

+Ở Campuchia,nhiều cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi trong cả nước, mở đầu là cuộc khởi nghĩa của Hoàng thân Si-vô-tha (1861 - 1892). Các cuộc khởi nghĩa của A-cha Xoa (1863 - 1866), Pu-côm-bô (1866 - 1867) là những cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn, gây nhiều tổn thất cho thực dân Pháp.

II. Các giai đoạn phát triển của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á

Từ cuối thế kỉ XIX, sau khi chủ nghĩa thực dân áp đặt được ách cai trị đối với các nước Đông Nam Á, cuộc đấu tranh của nhân dân các nước này chuyển sang một thời kì mới - thời kì đấu tranh giành lại độc lập dân tộc và trải qua ba giai đoạn phát triển chính.

- Giai đoạn từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1920:Khởi đầu cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc

+ Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ đấu tranh tự vệ sang đấu tranh giành độc lập dân tộc. Phong trào đấu tranh theo ý thức hệ phong kiến được thay thế bằng phong trào theo khuynh hướng tư sản, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa chống thực dân Tây Ban Nha của nhân dân Philíppin năm 1896.

+ Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, sự ra đời và phát triển của giai cấp vô sản ở các nước Đông Nam Á đã tạo nền tảng cho sự hình thành khuynh hướng mới trong phong trào đấu tranh.

- Giai đoạn từ năm 1920 - 1945:Xuất hiện xu hướng mới trong phong trào đấu tranh

+ Giai cấp vô sản bắt đầu bước lên vũ đài chính trị trong khu vực.

+ Các đảng cộng sản được thành lập ở một số nước: Inđônêxia (1920), Việt Nam, Mã Lai, Xiêm và Philíppin (trong những năm 30 của thế kỉ XX), mở ra khuynh hướng vô sản trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.

- Giai đoạn từ năm 1945 - 1975:Hoàn thành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc

+ Thắng lợi của lực lượng Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã tạo thời cơ thuận lợi cho phong trào. Trong 10 năm đầu sau chiến tranh (1945 - 1954), làn sóng đấu tranh dâng cao: Inđônêxia tuyên bố độc lập, Việt Nam và Lào tiến hành cách mạng giành chính quyền và tuyên bố độc lập trong năm 1945. Một số nước được trao trả độc lập như: Philíppin (1946) và Miến Điện (1948).

+ Từ năm 1954 đến năm 1975, các nước Đông Nam Á đã lần lượt hoàn thành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc (riêng Brunây được trao trả độc lập năm 1984).

III. Thời kì tái thiết và phát triển sau khi giành được độc lập

a) Những ảnh hưởng của chế độ thực dân

* Ảnh hưởng tiêu cực:

- Về kinh tế:

+ Sau nhiều thế kỉ là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, phần lớn các nước Đông Nam Á vẫn là những nước nông nghiệp lạc hậu.

+ Một số nước trong khu vực mặc dù được coi là vựa lúa của thế giới nhưng lại rơi vào tình trạng thiếu lương thực, đói kém triển miền.

- Về chính trị:việc áp đặt bộ máy cai trị, thực hiện chính sách “chia để trị”, chính sách “ngu dân” của các chính quyền thực dân đã để lại những hậu quả nặng nề và lâu dài cho các nước Đông Nam Á.

+ Chính sách “chia để trị”, sự phân biệt đối xử giữa các tộc người khác nhau là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự chia rẽ sâu sắc giữa các cộng đồng dân cư.

+ Tình trạng xung đột về sắc tộc, tôn giáo,… còn kéo dài nhiều năm sau khi giành độc lập ở một số nước như: Mianma, Inđônêxia, Philíppin,…

- Về văn hóa:chính sách nô dịch, áp đặt văn hóa ngoại lai của chính quyền thực dân đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo vệ và phát huy những truyền thống của nền văn hóa các dân tộc ở Đông Nam Á.

Hoàng thân Xu-pha-nu-vông cùng Mặt trận Lào Tự do (Ít-xa-la) tuyên bố nền độc lập của nước Lào ngày 12/10/1945
Hoàng thân Xu-pha-nu-vông cùng Mặt trận Lào Tự do (Ít-xa-la) tuyên bố nền độc lập của nước Lào ngày 12/10/1945

* Ảnh hưởng tích cực:Sự thống trị của chủ nghĩa thực dân phương Tây cũng có ảnh hưởng nhất định đến quá trình phát triển của một số nước Đông Nam Á về hạ tầng cơ sở, hệ thống luật pháp, hành chính,…

Lễ ký kết Tuyên bố Băng Cốc thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ngày 8/8/1967 tại Thái Lan
Lễ ký kết Tuyên bố Băng Cốc thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ngày 8/8/1967 tại Thái Lan

Quang cảnh một góc thành phố Sài Gòn (Việt Nam) thời Pháp thuộc

b) Quá trình tái thiết và phát triển

- Để thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu sau khi giành độc lập, các nước Đông Nam Á như Inđônêxia, Malaixia, Philíppin, Xingapo tiến hành chiến lược công nghiệp hoá từ giữa những năm 50 của thế kỉ XX, sớm hơn so với các nước còn lại trong khu vực.

+ Trong giai đoạn đầu, các nước thực hiện chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu với mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách đặt ra cho nền kinh tế.

+ Trong giai đoạn tiếp theo, các nước Đông Nam Á lần lượt chuyển sang thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, tập trung phát triển khu vực sản xuất hàng hoá xuất khẩu, lấy đó làm động lực chủ yếu để phát triển toàn bộ nền kinh tế.

- Các nước Việt Nam, Lào, Campuchia từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, tiến hành công nghiệp hoá từ cuối thập kỉ 80 - 90 của thế kỉ XX.

- Sau khi giành độc lập năm 1984, Brunây tiến hành điều chỉnh chính sách nhằm đa dạng hoá nền kinh tế. Mianma bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế từ cuối năm 1998.

- Trải qua quá trình phát triển, bằng những chính sách năng động và linh hoạt, các nước Đông Nam Á đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng hằng năm đạt mức cao. Đời sống xã hội có những chuyển biến về căn bản.

Hội nghị cấp cao ASEAN - biểu tượng cho sự đoàn kết, hòa bình và phát triển thịnh vượng của cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á
Hội nghị cấp cao ASEAN - biểu tượng cho sự đoàn kết, hòa bình và phát triển thịnh vượng của cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á

IV. Bảng tổng hợp & So sánh kiến thức lịch sử

Hệ thống hoá toàn bộ các nội dung so sánh, mốc thời gian và luận điểm cốt lõi của bài học bằng bảng tổng hợp trực quan:

Quốc gia Đông Nam Á Năm tuyên bố độc lập Năm công nhận hoàn toàn độc lập Lực lượng / Lãnh tụ tiêu biểu
In-đô-nê-xi-a 17/8/1945 Năm 1949 (Hà Lan công nhận tại Hội nghị Bàn tròn) Lãnh tụ Xu-các-nô, Hát-ta và Đảng Quốc dân In-đô-nê-xi-a
Việt Nam 2/9/1945 Năm 1975 (Đại thắng mùa Xuân, thống nhất đất nước) Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam
Lào 12/10/1945 Năm 1975 (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào thành lập) Hoàng thân Xu-pha-nu-vông, Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn và Đảng NDCM Lào
Phi-lip-pin Năm 1898 (chống TBN) 4/7/1946 (Mĩ buộc phải công nhận nền độc lập) Mặt trận giải phóng dân tộc Phi-lip-pin
Miến Điện (Myanmar) Năm 1948 4/1/1948 (Anh trao trả độc lập hoàn toàn) Anh hùng dân tộc Tướng Aung San và Liên đoàn Tự do Nhân dân
Mã Lai (Malaysia) Năm 1957 31/8/1957 (Thành lập Liên bang Mã Lai) Tunku Abdul Rahman và Tổ chức Dân tộc Mã Lai Thống nhất (UMNO)
Xin-ga-po Năm 1965 9/8/1965 (Tách khỏi Malaysia tuyên bố độc lập) Thủ tướng Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew)
Bru-nây Năm 1984 1/1/1984 (Anh trao trả độc lập hoàn toàn) Hoàng gia và Quốc vương Sultan Hassanal Bolkiah
Đông Ti-mo Năm 2002 20/5/2002 (Trở thành quốc gia độc lập trẻ nhất ĐNÁ) Mặt trận Cách mạng vì một Đông Ti-mo Độc lập (Fretilin)

V. Ghi nhớ trọng tâm "Em đã học"

📌 Các điểm then chốt cần ghi nhớ:

  • Luận điểm 1: Giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc từ cuối thế kỉ XIX đến trước năm 1945: Phong trào đấu tranh diễn ra quyết liệt, từng bước chuyển biến từ ý thức hệ phong kiến sang khuynh hướng dân chủ tư sản và khuynh hướng vô sản (với sự ra đời của các Đảng Cộng sản ở In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Mã Lai, Phi-lip-pin...).
  • Luận điểm 2: Cơ hội lịch sử năm 1945 và bước ngoặt tuyên bố độc lập: Phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, nhân dân 3 nước Đông Nam Á đã chớp thời cơ ngàn năm có một để vùng lên giành độc lập: In-đô-nê-xi-a (17/8/1945), Việt Nam (2/9/1945) và Lào (12/10/1945).
  • Luận điểm 3: Giai đoạn kiên cường kháng chiến và hoàn thành độc lập dân tộc (1945 - 1984/2002): Đánh bại âm mưu tái chiếm thuộc địa của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; các nước Đông Nam Á lần lượt hoàn thành nền độc lập: Phi-lip-pin (1946), Miến Điện (1948), Mã Lai (1957), Xin-ga-po (1965), Bru-nây (1984) và Đông Ti-mo (2002).
  • Luận điểm 4: Sự hình thành và phát triển vững mạnh của ASEAN: Thành lập ngày 8/8/1967 tại Băng Cốc từ 5 nước sáng lập ban đầu, ASEAN đã từng bước mở rộng thành khối liên kết toàn diện của 10 quốc gia trong khu vực ('Mái nhà chung ASEAN'), hướng tới Cộng đồng ASEAN hòa bình, ổn định và thịnh vượng.

🌟 Em đã học (Ghi nhớ kiến thức trọng tâm)

  • Giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc từ cuối thế kỉ XIX đến trước năm 1945: Phong trào đấu tranh diễn ra quyết liệt, từng bước chuyển biến từ ý thức hệ phong kiến sang khuynh hướng dân chủ tư sản và khuynh hướng vô sản (với sự ra đời của các Đảng Cộng sản ở In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Mã Lai, Phi-lip-pin...).
  • Cơ hội lịch sử năm 1945 và bước ngoặt tuyên bố độc lập: Phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, nhân dân 3 nước Đông Nam Á đã chớp thời cơ ngàn năm có một để vùng lên giành độc lập: In-đô-nê-xi-a (17/8/1945), Việt Nam (2/9/1945) và Lào (12/10/1945).
  • Giai đoạn kiên cường kháng chiến và hoàn thành độc lập dân tộc (1945 - 1984/2002): Đánh bại âm mưu tái chiếm thuộc địa của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; các nước Đông Nam Á lần lượt hoàn thành nền độc lập: Phi-lip-pin (1946), Miến Điện (1948), Mã Lai (1957), Xin-ga-po (1965), Bru-nây (1984) và Đông Ti-mo (2002).
  • Sự hình thành và phát triển vững mạnh của ASEAN: Thành lập ngày 8/8/1967 tại Băng Cốc từ 5 nước sáng lập ban đầu, ASEAN đã từng bước mở rộng thành khối liên kết toàn diện của 10 quốc gia trong khu vực ('Mái nhà chung ASEAN'), hướng tới Cộng đồng ASEAN hòa bình, ổn định và thịnh vượng.

Câu hỏi ôn tập & củng cố bài học

Thời cơ lịch sử 'ngàn năm có một' nào đã giúp các nước In-đô-nê-xi-a, Việt Nam và Lào giành độc lập năm 1945?
Tháng 8/1945, trước đòn tấn công áp đảo của Hồng quân Liên Xô tiêu diệt đạo quân Quan Đông và hai quả bom nguyên tử của Mỹ, phát xít Nhật buộc phải tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Quân phiệt Nhật ở Đông Nam Á hoàn toàn tê liệt, hoang mang mất tinh thần chiến đấu; chính quyền tay sai sụp đổ tan tành; trong khi quân Đồng minh chưa kịp kéo vào giải giáp. Lực lượng cách mạng 3 nước đã nhanh nhạy chớp thời cơ vàng này lãnh đạo toàn dân nhất tề nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi vẻ vang.
Phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân các nước Đông Nam Á từ sau năm 1945 diễn ra qua những hình thức nào?
Phong trào diễn ra qua hai hình thức chủ yếu: (1) Đấu tranh vũ trang kết hợp chính trị gian khổ, kiên cường chống lại các cuộc chiến tranh tái chiếm thuộc địa của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (tiêu biểu như cuộc kháng chiến trường kỳ của nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia và In-đô-nê-xi-a); (2) Đấu tranh chính trị, đàm phán ngoại giao nghị trường buộc thực dân Anh, Mỹ phải trao trả độc lập có điều kiện (tiêu biểu như Phi-lip-pin năm 1946, Miến Điện năm 1948, Mã Lai năm 1957).
Ý nghĩa lịch sử to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam đối với phong trào giải phóng dân tộc Đông Nam Á?
Đại thắng mùa Xuân 1975 của nhân dân Việt Nam đã đập tan cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới quy mô lớn nhất của đế quốc Mỹ sau CTTG 2, cổ vũ mạnh mẽ nhân dân Lào và Campuchia hoàn thành giải phóng dân tộc năm 1975; đồng thời làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của Mỹ ở châu Á, mở ra bước ngoặt quyết định cho xu thế hòa bình, hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia Đông Nam Á.
Trình bày bối cảnh ra đời, mục tiêu và nguyên tắc hoạt động cốt lõi của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)?
ASEAN thành lập ngày 8/8/1967 tại Băng Cốc trong bối cảnh các nước khu vực vừa giành độc lập, cần liên kết hợp tác để phát triển kinh tế và đối phó với sự can thiệp của các nước lớn. Mục tiêu cốt lõi: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và hòa bình, ổn định khu vực. Nguyên tắc hoạt động (ghi trong Hiệp ước Ba-li 1976): Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; hợp tác hiệu quả và đồng thuận ('Phương cách ASEAN').

Đề luyện tập theo bài