Lịch sử lớp 11 · KNTT · Chương 6
Lý thuyết Lịch sử 11 Bài 13: Việt Nam và Biển Đông
Tóm tắt lý thuyết Lịch sử 11 Bài 13: Việt Nam và Biển Đông theo chương trình SGK Kết nối tri thức với cuộc sống. Hệ thống hoá toàn bộ kiến thức trọng tâm, tranh ảnh tư liệu SGK sắc nét, bảng biểu so sánh trực quan và bộ câu hỏi ôn tập có đáp án chi tiết.
I. Tầm quan trọng của Biển Đông đối với Việt Nam
- Việt Nam giáp với Biển Đông ở ba phía (đông, nam và tây nam) và có đường bờ biển dài 3260 km từ tỉnh Quảng Ninh đến tỉnh Kiên Giang.
- Biển Đông đóng vai trò quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong lịch sử, hiện tại và tương lai.
a) Về quốc phòng, an ninh
- Biển Đông là tuyến phòng thủ phía đông của đất nước. Hệ thống các đảo và quần đảo của Việt Nam trên Biển Đông hợp thành tuyến phòng thủ bảo vệ vùng trời, vùng biển và đất liền.
Một góc Đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị) - “vọng gác tiền tiêu” trên Biển Đông ở cửa ngõ phía Nam của Vịnh Bắc Bộ
b) Về phát triển các ngành kinh tế trọng điểm
- Vị trí địa lí và tài nguyên của Biển Đông tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển đa dạng với các ngành mũi nhọn như: thương mại biển, khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, khai thác khoáng sản, giao thông hàng hải, sửa chữa và đóng tàu, du lịch...
+ Trữ lượng cá ở vùng biển Việt Nam có khả năng khai thác hàng năm đạt khoảng 2,3 triệu tấn.
+ Trữ lượng dầu mỏ và khí được xác minh là gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỉ m3khí. Vùng ven biển Việt Nam có tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng như: ti-tan, thiếc, vàng sắt, man-gan, đất hiếm,.. trong đó, cát nặng, cát đen là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước.
+ Đường bờ biển dài có nhiều bãi cát, vịnh, hang động tự nhiên đẹp, tạo điều kiện cho Việt Nam trở thành một điểm đến hấp dẫn, thúc đẩy sự phát triển kinh tế du lịch.
+ Dọc bờ biển có thể xây dựng các cảng biển nước sâu và điểm cảng trung bình.
- Biển Đông còn là cửa ngõ để Việt Nam giao lưu kinh tế, hợp tác và hội nhập với các nước trên thế giới, đặc biệt là khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Toàn bộ hàng hóa xuất - nhập khẩu của Việt Nam được vận chuyển bằng đường biển đều đi qua Biển Đông.
II. Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
a) Quá trình Việt Nam xác lập chủ quyền và quản lí đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
- Nhiều bằng chứng khảo cổ học đã chứng minh rằng ngay từ đầu Công nguyên, người Việt đã tích cực, chủ động và sớm có hoạt động kinh tế và văn hoá ở Biển Đông.
- Cùng với những nguồn sử liệu tin cậy, có giá trị pháp lí cao của Việt Nam và nước ngoài (văn bản hành chính, tư liệu lịch sử,...) qua các thời kì đã khẳng định Việt Nam là Nhà nước đầu tiên xác lập chủ quyền và thực hiện quản lý liên tục đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
* Trước năm 1884
- Các tập bản đồ của các triều đại quân chủ Việt Nam nhưHồng Đức bản đồ, Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1686), Giáp Ngọ bình Nam đồ (1774), Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838)và của người phương Tây như:An Nam đại quốc họa đồ (1838), Bộ Át lát thế giới (1827)đã thể hiện quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.
- Một số công trình sử học và địa lí của Việt Nam thời quân chủ cũng ghi chép tường tận về cương vực, lãnh thổ, hình thế đất nước và những hoạt động thực thi, bảo vệ chủ quyền của các chính quyền vua Lê - chúa Trịnh, chúa Nguyễn, triều Tây Sơn và triều Nguyễn ở quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa như:Đại Việt sử kí tục biên, Phủ biên tạp lục, Đại Nam thực lục, Hoàng Việt địa dư chí, Đại Nam nhất thống chí…
- Hoạt động xác lập chủ quyền, quản lý liên tục mang tính nhà nước đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa được khẳng định thông qua việc thành lập và hoạt động của các đội dân binh Hoàng Sa và Bắc Hải.
+ Đội Hoàng Sa và Bắc Hải hoạt động trong suốt thời gian từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XIX, vừa làm nhiệm vụ kiểm soát, vừa khai thác tài nguyên ở các đảo thuộc hai quần đảo này.
+ Dưới triều Nguyễn, hải đội Hoàng Sa và Bắc Hải còn phối hợp cùng thuỷ quân đi khảo sát, đo đạc để vẽ bản đồ, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, xây dựng miếu thờ, đào giếng, trồng cây... trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Hoàng Sa.
- Việc tổ chức đơn vị hành chính Hoàng Sa trong hệ thống tổ chức hành chính nhà nước lúc bấy giờ cũng được thực hiện.
+ Thời chúa Nguyễn, Hoàng Sa thuộc phủ Quảng Nghĩa (Quảng Ngãi).
+ Thời nhà Nguyễn, Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
*Từ năm 1884 đến năm 1975
- Cuối thế kỉ XIX, chính quyền thực dân Pháp (khi đó là đại diện ngoại giao của triều Nguyễn) tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam, quản lý và bảo vệ quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa theo đúng thông lệ pháp lí quốc tế.
- Năm 1909, người Pháp đã nêu rõ các cuộc khảo sát của Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam là trái phép.
- Đầu thế kỉ XX, qdta được sáp nhập vào tỉnh Bà Rịa và quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên.
- Từ những năm 30 của thế kỉ XX, người Pháp đã tiến hành xây dựng cột mốc chủ quyền, đèn biển, trạm khí tượng, trạm vô tuyến điện và thực hiện nhiều khảo sát khoa học.... ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
- Đến tháng 9/1951, chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa tiếp tục được tuyên bố và công nhận tại Hội nghị Hoà bình Xan Phran-xi-xcô mà không bị các quốc gia tham dự hội nghị phản đối.
- Từ năm 1954 đến năm 1975, hai quần đảo được đặt dưới sự quản lý hành chính của chính quyền Sài Gòn.
+ Chính quyền Sài Gòn đã liên tục thực thi chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thông qua việc ban hành các văn bản hành chính nhà nước, cử quân đồn trú, dựng bia chủ quyền, treo cờ trên các đảo chính.
+ Về mặt hành chính, quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy (tỉnh Bà Rịa - vũng Tàu ngày nay).
- Từ ngày 13 đến ngày 28/4/1975, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã tiếp quản các đảo và triển khai lực lượng thực thi chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa.
* Từ sau năm 1975 đến nay
- Sau khi đất nước thống nhất, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tiếp tục quản lý và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
- Các đơn vị hành chính tại hai quần đảo này đã được thành lập.
+ Năm 1982, huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (từ năm 1997 thuộc thành phố Đà Nẵng) và huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa được thành lập.
+ Trong huyện Trường Sa có các đơn vị hành chính nhỏ hơn như thị trấn Trường Sa (bao gồm đảo Trường Sa Lớn và phụ cận); xã Song Tử Tây (đảo Song Tử Tây và phụ cận); xã Sinh Tồn (đảo Sinh Tồn và phụ cận)...
b) Cuộc đấu tranh bảo vệ, thực thi chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông
- Nhà nước Việt Nam qua các thời kì lịch sử có những hoạt động đấu tranh kiên quyết nhằm bảo vệ, thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
♦ Trước năm 1884:
+ Từ thời chúa Nguyễn, Vương triều Tây Sơn, các đội Hoàng Sa, Bắc Hải có nhiệm vụ tuần tiễu giữ gìn vùng biển, ứng chiến với nạn cướp biển và những xâm phạm tại quần đảo Hoàng Sa,..
+ Dưới triều Nguyễn, các đội thuỷ quân chuyên trách công việc bảo vệ, thực thi chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa được tổ chức.
♦ Từ năm 1884 đến năm 1954:
+ Năm 1939, chính quyền thực dân Pháp gửi công hàm phản đối việc Nhật Bản kiểm soát một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa.
+ Năm 1946, chính quyền thực dân Pháp cho hải quân trú đóng ở các đảo chính thuộc quần đảo Trường Sa và yêu cầu quân đội Trung Hoa Dân quốc rút khỏi các đảo đã chiếm đóng trái phép.
♦ Từ năm 1954 đến năm 1975:
+ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra tuyên bố khẳng định chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng và bất khả xâm phạm.
+ Tháng 1/1974, quân đội Sài Gòn thất bại trong chiến đấu bảo vệ quần đảo Hoàng Sa trước cuộc tấn công của quân đội Trung Quốc.
♦ Từ năm 1975 đến nay:
+ Tháng 3 - 1988, nhiều chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đã hi sinh anh dũng khi chiến đấu bảo vệ chủ quyền tại các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao trước cuộc tấn công của quân đội Trung Quốc.
+ Từ tháng 3/1988 đến nay, nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiên trì đấu tranh ngoại giao và pháp lí để khẳng định, bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và môi trường hoà bình, hợp tác trên Biển Đông.
III. Chủ trương của Việt Nam trong giải quyết các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông
- Nhà nước Việt Nam thực hiện các biện pháp toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế và quân sự nhằm bảo vệ quyền, chủ quyền và các lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông.
- Đối với các tranh chấp chủ quyền, Việt Nam chủ trương giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông thông qua biện pháp hoà bình với tinh thần hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế. Tiêu biểu là:
♦Ban hành văn bản pháp luật khẳng định chủ quyền.
+ Tuyên bố về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam (tháng 5/1977);
+ Sách Trắng: “Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa” (tháng 9/1979);
+ Sách Trắng: “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam” (tháng 12/1981)….
♦Tham gia Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc (UNCLOS). Theo Công ước Luật Biển UNCLOS, Việt Nam là quốc gia ven biển có các vùng biển và thềm lục địa để thăm dò và khai thác với diện tích khoảng gần một triệu ki-lô-mét vuông, rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền.
♦Thông qua Luật Biển Việt Nam năm 2012.
♦Thúc đẩy và thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).
- Để tăng cường tiềm lực quốc gia phục vụ hoạt động bảo vệ chủ quyền biển đảo, Việt Nam thực hiện phát triển kinh tế biển gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh trên biển và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển.
IV. Bảng tổng hợp & So sánh kiến thức lịch sử
Hệ thống hoá toàn bộ các nội dung so sánh, mốc thời gian và luận điểm cốt lõi của bài học bằng bảng tổng hợp trực quan:
| Thời kì lịch sử | Hoạt động thực thi chủ quyền của Việt Nam | Bằng chứng và thư tịch lịch sử ghi nhận |
|---|---|---|
| Thời chúa Nguyễn (TK XVII - XVIII) | Thành lập Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải hằng năm ra đảo đo vẽ, thu lượm hải vật, cắm mốc chủ quyền | Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776), Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1686) |
| Thời triều Tây Sơn (cuối TK XVIII) | Tiếp tục cử cai đội xuất dương ra quần đảo Hoàng Sa làm nhiệm vụ bảo vệ và khai thác tài nguyên | Bản phê sai của triều Tây Sơn cử cai đội Hoàng Sa đi làm nhiệm vụ (năm 1786) |
| Thời triều Nguyễn (TK XIX) | Vua Gia Long, Minh Mạng cử thủy quân ra cắm mốc, vẽ bản đồ, dựng bia đá, xây chùa, trồng cây xanh | Châu bản triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838) |
| Thời Pháp thuộc (1884 - 1945) | Chính quyền Pháp thay mặt Việt Nam dựng bia chủ quyền, đặt trạm khí tượng, hải đăng, quản lý hành chính | Nghị định thành lập đơn vị hành chính Hoàng Sa thuộc Thừa Thiên, Trường Sa thuộc Bà Rịa (1938) |
| Giai đoạn 1954 - 1975 | Chính quyền Sài Gòn đóng quân bảo vệ, dựng lại bia chủ quyền, tuyên bố phản đối mọi hành vi xâm phạm | Tuyên bố tại Hội nghị San Francisco (1951), sắc lệnh quản lý hai quần đảo của chính quyền Sài Gòn |
| Từ năm 1975 đến nay | Nhà nước CHXHCN Việt Nam quản lý, bảo vệ và xây dựng huyện đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng) và Trường Sa (Khánh Hòa) | Hiến pháp, Luật Biển Việt Nam 2012, các văn kiện luật pháp quốc tế theo UNCLOS 1982 |
V. Ghi nhớ trọng tâm "Em đã học"
📌 Các điểm then chốt cần ghi nhớ:
- Luận điểm 1: Tầm quan trọng sống còn của Biển Đông đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Bờ biển dài hơn 3.260 km với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ tạo thành tuyến phòng thủ chiến lược tiền tiêu bảo vệ sườn phía đông của đất nước; mở ra tiềm năng kinh tế biển to lớn (dầu khí, vận tải biển, cảng biển nước sâu, thủy sản, du lịch biển).
- Luận điểm 2: Chứng cứ lịch sử xác lập chủ quyền liên tục đối với Hoàng Sa và Trường Sa thời phong kiến: Nhà nước phong kiến Đại Việt là quốc gia đầu tiên trong lịch sử khai phá, chiếm hữu và thực thi chủ quyền liên tục, hòa bình đối với hai quần đảo; các chúa Nguyễn thành lập đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải; các triều Tây Sơn, triều Nguyễn cử thủy quân cắm mốc, vẽ bản đồ, ghi chép trong Châu bản và thư tịch chính sử.
- Luận điểm 3: Quá trình thực thi chủ quyền thời kì cận - hiện đại: Chính quyền thuộc địa Pháp thay mặt Việt Nam tiếp tục thực thi chủ quyền hợp pháp (dựng trạm khí tượng, đèn biển, bia chủ quyền); Hội nghị San Francisco năm 1951 tuyên bố chủ quyền của Việt Nam không bị phản đối; chính quyền Sài Gòn (1954 - 1975) và Nhà nước CHXHCN Việt Nam (từ 1975 đến nay) tiếp tục bảo vệ, quản lý và thực thi chủ quyền trọn vẹn.
- Luận điểm 4: Chủ trương và lập trường đối ngoại nhất quán của Việt Nam hiện nay: Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và lợi ích hợp pháp trên biển; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982; thực hiện đầy đủ DOC và thúc đẩy ký kết Bộ Quy tắc ứng xử (COC) thực chất, hiệu lực.
🌟 Em đã học (Ghi nhớ kiến thức trọng tâm)
- Tầm quan trọng sống còn của Biển Đông đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Bờ biển dài hơn 3.260 km với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ tạo thành tuyến phòng thủ chiến lược tiền tiêu bảo vệ sườn phía đông của đất nước; mở ra tiềm năng kinh tế biển to lớn (dầu khí, vận tải biển, cảng biển nước sâu, thủy sản, du lịch biển).
- Chứng cứ lịch sử xác lập chủ quyền liên tục đối với Hoàng Sa và Trường Sa thời phong kiến: Nhà nước phong kiến Đại Việt là quốc gia đầu tiên trong lịch sử khai phá, chiếm hữu và thực thi chủ quyền liên tục, hòa bình đối với hai quần đảo; các chúa Nguyễn thành lập đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải; các triều Tây Sơn, triều Nguyễn cử thủy quân cắm mốc, vẽ bản đồ, ghi chép trong Châu bản và thư tịch chính sử.
- Quá trình thực thi chủ quyền thời kì cận - hiện đại: Chính quyền thuộc địa Pháp thay mặt Việt Nam tiếp tục thực thi chủ quyền hợp pháp (dựng trạm khí tượng, đèn biển, bia chủ quyền); Hội nghị San Francisco năm 1951 tuyên bố chủ quyền của Việt Nam không bị phản đối; chính quyền Sài Gòn (1954 - 1975) và Nhà nước CHXHCN Việt Nam (từ 1975 đến nay) tiếp tục bảo vệ, quản lý và thực thi chủ quyền trọn vẹn.
- Chủ trương và lập trường đối ngoại nhất quán của Việt Nam hiện nay: Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và lợi ích hợp pháp trên biển; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982; thực hiện đầy đủ DOC và thúc đẩy ký kết Bộ Quy tắc ứng xử (COC) thực chất, hiệu lực.