MasterSchool

Sinh học lớp 10 · KNTT · Chương 5

Lý thuyết Sinh học 10 Bài 15: Thực hành: Thí nghiệm phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố đến hoạt tính của enzyme

Chương 5: Chuyển hóa năng lượng trong tế bào · Kết nối tri thức với cuộc sống

Tóm tắt lý thuyết Sinh học 10 Bài 15: Thực hành: Thí nghiệm phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố đến hoạt tính của enzyme theo chương trình SGK Kết nối tri thức với cuộc sống. Hệ thống hoá toàn bộ kiến thức trọng tâm, sơ đồ cấu trúc tế bào sinh học chuẩn xác, bảng biểu so sánh trực quan và câu hỏi củng cố có lời giải chi tiết.

Lớp

I. Yêu cầu cần đạt

- Thực hiện được các bước thí nghiệm theo quy trình.

- Quan sát và nhận xét được hiệu quả tác dụng của enzyme trong phân hủy protein; ảnh hưởng của pH, nhiệt độ đối với hoạt tính của enzyme phân hủy protein.

- Quan sát và nhận xét được hiệu quả tác dụng của enzyme trong phân hủy tinh bột, ảnh hưởng của pH, nhiệt độ đối với hoạt tính của enzyme phân hủy tinh bột.

II. Chuẩn bị

1. Dụng cụ, thiết bị

Dao gọt hoa quả, dụng cụ ép tỏi (ép quả), chày, cối sứ, cốc thí nghiệm, đĩa Petri nhựa trong có đường kính từ 9 cm đến 10 cm, đũa thủy tinh, ống nghiệm nhựa trong có dung tích 14 mL đến 15 mL, đồng hồ, pipet nhựa mềm 3 mL (ống nhỏ giọt chia vạch) hoặc bơm tiêm 2,5 mL (không có kim tiêm), bút viết kính (hoặc giấy dán ống nghiệm và bút chì), dụng cụ đun sôi nước, cốc đựng nước sôi và nhúng được ngập ½ ống nghiệm theo chiều dọc, hộp cách nhiệt đựng nước đá, thước kẻ dẹp có độ chia nhỏ nhất tới mm, giấy lọc, phễu.

2. Hóa chất

- Nước vôi trong, nước đá, 2 g bột sắn (bột lọc) hoặc bột đao (bột năng), giấm trắng.

3. Mẫu vật

- Quả dứa hoặc quả đu đủ xanh, quả trứng gà sống, 100 g hạt lúa (hoặc hạt ngô) ủ cho lên mầm khoảng 2 cm (cần được chuẩn bị từ trước).

III. Cách tiến hành

1. Thí nghiệm phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố đến hoạt tính của enzyme phân hủy protein

- Bước 1: Gọt dứa, lấy lõi ép lấy nước và chia vào 4 ống nghiệm, mỗi ống chứa 0,5 mL nước ép lõi dứa. Đánh số các ống nghiệm từ 1 đến 4.

(Nếu dùng đu đủ thì gọt lấy khoảng 5 g vỏ hoặc thay bằng lá đu đủ tươi, nghiền nát bằng chày và cối, thêm vào 4 mL nước cất (nước lọc), khuấy đều và lọc lấy dịch trong. Chia vào 4 ống nghiệm, mỗi ống 0,5 mL dịch).

- Bước 2: Ống số 1 cho thêm 0,1 mL nước cất, để nguyên ở nhiệt độ phòng. Ống số 2 cho thêm 0,1 mL nước vôi trong, để ở nhiệt độ phòng. Ống số 3 cho thêm 0,1 mL nước cất và chuyển vào cốc nước sôi trong 10 phút. Ống số 4 cho thêm 0,1 mL nước cất và để trong nước đá.

- Bước 3: Dùng pipet hoặc bơm tiêm để lấy 2 mL lòng trắng trứng, trộn đều với 2 mL nước cất được dung dịch lòng trắng trứng.

- Bước 4: Chuyển vào mỗi ống nghiệm 1 mL dung dịch lòng trắng trứng, lắc đều, quan sát, nhận xét và ghi chép lại sự thay đổi của dung dịch trong ống nghiệm và thời gian xảy ra thay đổi ở các ống (bắt đầu và kết thúc sự thay đổi).

2. Thí nghiệm kiểm tra hoạt tính thủy phân tinh bột của enzyme amylase

- Bước 1:2 g bột lọc được khuấy đều trong 100 mL nước và đun sôi, đổ ra đĩa Petri và để nguội. Nồng độ tinh bột có thể tăng hoặc giảm chút ít để khi đĩa tinh bột nguội đi sẽ vừa đủ đặc để không chảy khi nghiêng đĩa và cũng không bị đặc cứng đặc.

- Bước 2: Tách lấy mầm lúa (hoặc ngô) rồi nghiền nhỏ bằng chày, cối sứ. Cho thêm vào 2 mL nước, khuấy đều rồi gạn lấy phần nước. Chia vào 4 ống nghiệm (đã được đánh số từ 1 đến 4), mỗi ống 0,5 mL dịch mầm lúa (ngô).

- Bước 3:Ống số 1, thêm 0,1 mL nước cất, để nguyên ở nhiệt độ phòng. Ống số 2 cho thêm 0,1 mL nước vôi trong, để ở nhiệt độ phòng. Ống số 3 cho thêm 0,1 mL nước cất và chuyển vào cốc nước sôi trong 10 phút rồi để nguội ở nhiệt độ phòng. Ống số 4 cho thêm 0,1 mL nước cất và để trong nước đá.

- Bước 4:Lấy dung dịch ở mỗi ống nghiệm nhỏ 2 giọt lên các vị trí khác nhau trên đĩa đựng tinh bột (đánh dấu các vị trí tương ứng số của ống nghiệm). Sau 15 phút, kiểm tra và đo đường kính vết lõm ở các vị trí trên đĩa.

IV. Thu hoạch

Học sinh viết báo cáo thực hành theo các nội dung sau:

Hình ảnh minh họa SGK Sinh học 10

🌟 Em đã học (Ghi nhớ kiến thức trọng tâm)

Câu hỏi ôn tập & củng cố bài học

Enzyme catalase có mặt ở đâu trong tế bào và đảm nhận vai trò sinh học gì?
Enzyme catalase có mặt phổ biến trong peroxisome của hầu hết các tế bào sinh vật hiếu khí (đặc biệt phong phú ở tế bào gan, củ khoai tây). Vai trò sinh học của catalase là khử độc: phân giải tức thì phân tử hydrogen peroxide (H2O2H_2O_2 - chất oxy hóa cực mạnh và độc hại sinh ra từ các quá trình chuyển hóa tế bào) thành nước và khí oxygen vô hại theo phản ứng: 2H2O2→catalase2H2O+O2↑2H_2O_2 \xrightarrow{\text{catalase}} 2H_2O + O_2\uparrow.
Giải thích hiện tượng sủi bọt khí khác nhau giữa miếng khoai tây sống và miếng khoai tây luộc chín khi nhỏ dung dịch H2O2H_2O_2.
Ở miếng khoai tây sống: enzyme catalase còn nguyên vẹn cấu trúc và hoạt tính xúc tác mạnh mẽ, phân giải nhanh chóng H2O2H_2O_2 tạo bọt khí O2O_2 sủi trào lên mãnh liệt. Ở miếng khoai tây luộc chín: nhiệt độ cao 100∘C100^\circ\text{C} đã phá vỡ các liên kết không gian làm biến tính hoàn toàn protein enzyme catalase, catalase mất hoạt tính xúc tác nên khi nhỏ H2O2H_2O_2 hoàn toàn không có hiện tượng sủi bọt khí.
Để chứng minh enzyme amylase trong nước bọt thủy phân tinh bột, ta sử dụng thuốc thử nào và kết quả ra sao?
Sử dụng dung dịch thuốc thử iodine (I2/KII_2/KI): (1) Ống nghiệm đối chứng (chỉ có tinh bột + nước cất): tinh bột không bị phân giải, khi nhỏ iodine dung dịch xuất hiện màu xanh tím đậm; (2) Ống nghiệm thực nghiệm (tinh bột + nước bọt ủ ở 37∘C37^\circ\text{C}): enzyme amylase đã thủy phân tinh bột thành đường đôi maltose và glucose, khi nhỏ iodine dung dịch không đổi màu (vẫn giữ màu vàng nhạt của iodine).
Tại sao khi nhai kĩ cơm hoặc bánh mì trong miệng ta lại cảm nhận được vị ngọt nhẹ?
Cơm và bánh mì chứa thành phần chính là tinh bột (polysaccharide không có vị ngọt). Khi nhai kĩ, enzyme amylase trong nước bọt được trộn đều và có đủ thời gian xúc tác phản ứng thủy phân tinh bột thành các phân tử đường đôi maltose và đường đơn glucose, những phân tử đường này kích thích các gai vị giác ngọt trên lưỡi tạo cảm giác ngọt nhẹ.