MasterSchool

Địa lý lớp 12 · KNTT · Chương 4

Lý thuyết Địa lí 12 Bài 34: Thực hành: Viết báo cáo tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

Chương 4: Địa lí các vùng kinh tế · Kết nối tri thức với cuộc sống

Tóm tắt lý thuyết Địa lí 12 Bài 34: Thực hành: Viết báo cáo tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam theo chương trình SGK Kết nối tri thức với cuộc sống. Hệ thống hoá toàn bộ kiến thức trọng tâm, bản đồ và biểu đồ SGK sắc nét, bảng biểu so sánh trực quan và bộ câu hỏi ôn tập có đáp án chi tiết.

Lớp

I. Nội dung

Thu thập tài liệu, tranh ảnh, video,… viết báo cáo tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Có thể chọn một trong số các nội dung sau:

- Nội dung 1: Tuyên truyền về chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

- Nội dung 2: Tuyên truyền về Luật Biển Việt Nam năm 2012.

II. Nguồn tư liệu

- Sách giáo khoa Địa lí 12.

- Thông tin trên internet có liên quan đến báo cáo

- Các sách, báo, tạp chí, video,… có liên quan đến nội dung báo cáo

- Luật Biển Việt Nam, Luật số 18/2012/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2012

III. Gợi ý thực hiện

- Lựa chọn nội dung

- Sưu tầm, tổng hợp thông tin

- Viết báo cáo

Trả lời:

Tuyên truyền về chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa

Việt Nam có hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và hai quần đảo ngoài khơi Biển Ðông là Hoàng Sa và Trường Sa. Ðây là hai quần đảo tiền tiêu của Tổ quốc; là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Từ những tư liệu lịch sử trong nước và ở nước ngoài, chúng ta khẳng định rằng: Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý, lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ nửa đầu thế kỷ 17, Chúa Nguyễn đã tổ chức “đội Hoàng Sa” (lấy người từ xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi) ra quần đảo Hoàng Sa (với khoảng thời gian từ sáu đến tám tháng mỗi năm) để thu lượm hàng hóa trôi dạt trên biển, đánh bắt hải sản quý hiếm; đồng thời, đo vẽ sơ đồ, hải trình, trồng cây và dựng mốc trên quần đảo.

Đến thế kỷ 19, nhà Nguyễn đã tổ chức thêm “đội Bắc Hải” (lấy người thôn Tứ Chính và xã Cảnh Dương, phủ Bình Thuận) để tiến ra quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa để thực hiện các hành động chủ quyền tại đây. Theo hiểu biết địa lý lúc bấy giờ, địa danh quần đảo Hoàng Sa liền một dải, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa.

Ðiều đó chứng tỏ ngay từ thế kỷ 17, Việt Nam đã xác lập, thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi hai quần đảo này còn là lãnh thổ vô chủ và có thể nói là quốc gia duy nhất thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo này một cách hòa bình, liên tục và không gặp phải sự phản đối của bất kỳ quốc gia nào. Thực tế này được chứng minh trong nhiều tư liệu, sách cổ, văn bản pháp lý của Nhà nước, bản đồ thể hiện việc thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được lưu giữ tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, với tư cách đại diện cho Việt Nam về đối ngoại theo Hiệp ước Patenôtre (năm 1884), Chính quyền thuộc địa Pháp đã có nhiều hoạt động củng cố chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ năm 1925 đến năm 1927, Pháp đã tổ chức điều tra về khí hậu, thổ nhưỡng, nghiên cứu mỏ và duy trì tuần tra trên quần đảo Hoàng Sa.

Liên tục trong các năm 1930-1933, Pháp đã đưa quân đội ra đóng giữ ở quần đảo Trường Sa. Ðể tiện quản lý, năm 1933, Pháp đã sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa (Nam Kỳ); thành lập đơn vị hành chính ở Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên (năm 1938). Cũng trong thời gian này, Pháp còn cho đặt cột mốc, xây ngọn hải đăng và các trạm: khí tượng, vô tuyến điện trên hai quần đảo.

Trong quan hệ quốc tế, Pháp đã nhiều lần lên tiếng phản đối các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Ngày 14/10/1950, Pháp đã chính thức trao việc quản lý quần đảo Hoàng Sa cho chính phủ Bảo Ðại.

Tại Hội nghị San Francisco (năm 1951), trước đại diện của 51 quốc gia (trong đó có Trung Quốc), đại diện của chính phủ Bảo Ðại với tư cách là thành viên của khối Liên hiệp Pháp, phái đoàn quốc gia Việt Nam do Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trần Văn Hữu làm trưởng đoàn đã tham gia hội nghị.

Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Trần Văn Hữu một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lời tuyên bố đó đã được Hội nghị San Francisco ghi vào biên bản và không gặp phải sự bảo lưu hay phản đối nào của đại diện các nước tham dự hội nghị, đã khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp phải bất cứ sự phản đối nào của các nước tham dự hội nghị.

Năm 1975, cùng với tiến trình giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước, Hải quân nhân dân Việt Nam đã giải phóng các đảo do quân đội Sài Gòn đóng giữ, như: đảo Trường Sa, Sơn Ca, Nam Yết, Song Tử Tây, Sinh Tồn và An Bang,… thuộc quần đảo Trường Sa. Ðồng thời, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam đã ra tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Liên tục từ đó đến nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam và Việt Nam có đầy đủ chủ quyền đối với hai quần đảo này, phù hợp các quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế. Hiện nay, huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc thành phố Ðà Nẵng; huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa với một thị trấn và hai xã đảo.

Các bài học để học tốt Địa lí 12 Bài 34: Thực hành: Viết báo cáo tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam:

Giải SBT Địa lí 12 Bài 34: Thực hành: Viết báo cáo tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

Xem lời giải

Giáo án Địa lí 12 Bài 34: Thực hành: Viết báo cáo tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

Xem chi tiết

Giáo án điện tử Địa lí 12 Bài 34: Thực hành: Viết báo cáo tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

Xem chi tiết

Bài giảng: Bài 34: Thực hành: Viết báo cáo tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam - Cô Vũ Hiên (Giáo viên VietJack)

Địa Lí 12 Bài 29: Thực hành: Phân tích ý nghĩa của phát triển kinh tế - xã hội đối với quốc phòng, an ninh ở Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (Nam Trung Bộ)

Địa Lí 12 Bài 30: Phát triển kinh tế - xã hội ở Đông Nam Bộ

Địa Lí 12 Bài 31: Sử dụng hợp lí tự nhiên để phát triển kinh tế ở Đồng bằng sông Cửu Long

Địa Lí 12 Bài 32: Thực hành: Viết báo cáo về biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long

Địa Lí 12 Bài 33: Phát triển kinh tế và đảm bảo quốc phòng an ninh ở Biển Đông và các đảo, quần đảo

Địa Lí 12 Bài 35: Thực hành: Tìm hiểu địa lí địa phương

Các sản phẩm khác của Vietjack:

TÀI LIỆU CLC DÀNH CHO GIÁO VIÊN VÀ PHỤ HUYNH LỚP 12

Hỗ trợ zalo: VietJack Official

Công cụ giáo viên (2048.VN)

Tạo- trộn đề thi miễn phí từ file PDF, Word, Giao bài nhanh chóng, Hoàn toàn Free

IV. Bảng tổng hợp & So sánh kiến thức địa lí

Khía cạnh tuyên truyềnNội dung pháp lí & Lịch sửHành động thực tiễn của học sinh
Cơ sở lịch sử vững chắcChâu bản triều Nguyễn, hoạt động của Hải đội Hoàng Sa và Bắc Hải từ thế kỉ XVIITích cực tìm hiểu, chia sẻ tư liệu lịch sử chính thống về chủ quyền biển đảo
Cơ sở pháp lí quốc tếCông ước UNCLOS 1982, Luật Biển Việt Nam 2012, Tuyên bố ứng xử DOCTuyên truyền tuân thủ pháp luật, bác bỏ các luận điệu xuyên tạc sai trái
Phát triển kinh tế biển bền vữngChống khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU), bảo vệ môi trường biểnKhông xả rác thải nhựa ra bãi biển, ủng hộ các sản phẩm thủy sản hợp pháp
Phong trào hướng về biển đảoÝ chí kiên cường của quân và dân trên các đảo tiền tiêu, nhà giàn DK1Viết thư thăm hỏi chiến sĩ đảo xa, tham gia cuộc thi tìm hiểu biên cương hải đảo

V. Ghi nhớ trọng tâm "Em đã học"

📌 Các điểm then chốt cần ghi nhớ:

  • Luận điểm 1: Thực hành viết báo cáo tuyên truyền khẳng định bằng chứng lịch sử và pháp lí vững chắc về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
  • Luận điểm 2: Hệ thống tư liệu châu bản triều Nguyễn, bản đồ cổ của Việt Nam và phương Tây chứng minh Nhà nước Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền liên tục, hòa bình từ nhiều thế kỉ trước.
  • Luận điểm 3: Ý nghĩa sống còn của bảo vệ không gian sinh tồn, quyền tài phán trên các vùng biển theo Công ước Quốc tế UNCLOS 1982 và Luật Biển Việt Nam 2012.
  • Luận điểm 4: Trách nhiệm và hành động thiết thực của tuổi trẻ học sinh: học tập nâng cao tri thức, tham gia phong trào “Vì biển đảo quê hương”, lan tỏa thông điệp bảo vệ chủ quyền và phát triển kinh tế biển bền vững.
  • Luận điểm 5: Rèn luyện kĩ năng thuyết trình, xây dựng tài liệu infographic, kĩ năng hùng biện và viết báo cáo truyền thông chính trị - xã hội sâu sắc.

🌟 Em đã học (Ghi nhớ kiến thức trọng tâm)

  • Thực hành viết báo cáo tuyên truyền khẳng định bằng chứng lịch sử và pháp lí vững chắc về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
  • Hệ thống tư liệu châu bản triều Nguyễn, bản đồ cổ của Việt Nam và phương Tây chứng minh Nhà nước Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền liên tục, hòa bình từ nhiều thế kỉ trước.
  • Ý nghĩa sống còn của bảo vệ không gian sinh tồn, quyền tài phán trên các vùng biển theo Công ước Quốc tế UNCLOS 1982 và Luật Biển Việt Nam 2012.
  • Trách nhiệm và hành động thiết thực của tuổi trẻ học sinh: học tập nâng cao tri thức, tham gia phong trào “Vì biển đảo quê hương”, lan tỏa thông điệp bảo vệ chủ quyền và phát triển kinh tế biển bền vững.
  • Rèn luyện kĩ năng thuyết trình, xây dựng tài liệu infographic, kĩ năng hùng biện và viết báo cáo truyền thông chính trị - xã hội sâu sắc.

Câu hỏi ôn tập & củng cố bài học

Những cứ liệu lịch sử nào chứng minh Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đời?
Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và căn cứ pháp lí có giá trị quốc tế vững chắc: (1) Các văn bản chính sử triều đình phong kiến Việt Nam (Đại Nam thực lục, Phủ biên tạp lục, Lịch triều hiến chương loại chí) đều ghi chép hoạt động của Hải đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được các chúa Nguyễn và vua triều Nguyễn phái ra đo đạc thủy trình, cắm mốc chủ quyền, thu lượm hải vật từ thế kỉ XVII; (2) Hệ thống Châu bản triều Nguyễn - Di sản tư liệu thế giới ghi nhận các chỉ dụ về việc cử quan quân ra Hoàng Sa; (3) Nhiều bản đồ cổ của phương Tây và bản đồ do chính triều đình phong kiến Trung Quốc xuất bản trước thế kỉ XX đều xác nhận ranh giới cực nam của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam.
Tại sao Việt Nam kiên quyết đấu tranh chống các hành vi xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa?
Việt Nam kiên quyết đấu tranh vì vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa là không gian sinh tồn thiêng liêng, thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán hoàn toàn hợp pháp của quốc gia ven biển theo UNCLOS 1982. Mọi hành vi đơn phương đưa giàn khoan, tàu khảo sát địa chấn hoặc tàu cá nước ngoài vào đánh bắt trái phép đều vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, đe dọa chủ quyền lãnh thổ, cạn kiệt tài nguyên kinh tế và an ninh quốc gia của Việt Nam.
Thực hiện tốt các quy định chống khai thác IUU có ý nghĩa như thế nào đối với ngành thủy sản và uy tín quốc gia?
Chống khai thác IUU (bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định) có ý nghĩa sống còn: (1) Gỡ bỏ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC), bảo đảm không bị cấm xuất khẩu thủy sản vào thị trường EU; (2) Bảo vệ và phục hồi nguồn lợi sinh vật biển trước nguy cơ tận diệt; (3) Khẳng định Việt Nam là một quốc gia ven biển có trách nhiệm, tuân thủ nghiêm túc các công ước quốc tế và luật pháp hàng hải quốc tế.
Thông điệp cốt lõi cần truyền tải trong một báo cáo tuyên truyền về biển đảo là gì?
Thông điệp cốt lõi: “Hoàng Sa và Trường Sa là một phần máu thịt thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam. Bảo vệ chủ quyền biển đảo là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm cao cả của mỗi công dân Việt Nam; phát triển kinh tế biển phải luôn song hành với giữ gìn hòa bình, hữu nghị, bảo vệ môi trường sinh thái đại dương và tuân thủ luật pháp quốc tế”.