MasterSchool

Vật lý lớp 12 · KNTT · Chương 1

Lý thuyết Vật lí 12 Bài 1: Cấu trúc của chất. Sự chuyển thể

Chương 1: Vật lí nhiệt · Kết nối tri thức với cuộc sống

Với tóm tắt lý thuyết Vật Lí 12 Bài 1: Cấu trúc của chất. Sự chuyển thể sách Kết nối tri thức hay nhất, chi tiết sẽ giúp học sinh lớp 12 nắm vững kiến thức trọng tâm, ôn luyện để học tốt môn Vật Lí 12.

Lớp

I. Mô hình động học phân tử về cấu tạo chất

Mô hình động học phân tử gồm các nội dung cơ bản:

- Vật chất được cấu tạo bởi một số lượng lớn các hạt có kích thước rất nhỏ gọi là phân tử. Các hạt bao gồm (phân tử, nguyên tử, ion).

- Các phân tử chuyển động không ngừng (hình 1). Nhiệt độ của vật càng cao thì tốc độ chuyển động của các phân tử cấu tạo nên vật càng lớn.

- Giữa các phân tử có lực hút và đẩy gọi chung là lực liên kết phân tử.

II. Cấu trúc của chất rắn, chất lỏng và chất khí

Vật chất thường tồn tại ở ba trạng thái cơ bản là: thể rắn, thể lỏng và thể khí.

Hình ảnh minh họa SGK

- Ở thể rắn các phân tử rất gần nhau và chúng được sắp xếp theo một trật tự hình học xác định. Lực tương tác giữa các phân tử rất mạnh, giữ cho chúng không di chuyển tự do mà chỉ có thể dao động quanh vị trí cân bằng xác định. Do đó, chất rắn kết tinh luôn có thể tích và hình dạng riêng xác định.

Hình ảnh minh họa SGK

- Ở thể lỏng, các phân tử ở xa nhau hơn so với các phân tử trong chất rắn. Lực tương tác giữa các phân tử chất lỏng nhỏ hơn trong chất rắn nên giữ cho các phân tử không bị phân tán ra xa nhau, do đó chất lỏng có thể tích riêng xác định. Tuy nhiên lực tương tác này chưa đủ lớn nên các phân tử ở thể lỏng cũng dao động quanh vị trí cân bằng nhưng các vị trí cân bằng n��y không cố định mà luôn luôn thay đổi. Do đó, khối chất lỏng rất khó bị nén, nó có thể tích xác định nhưng không có hình dạng riêng mà có hình dạng của phần bình chứa nó.

- Ở thể khí, các phân tử ở xa nhau hơn so với các phân tử trong chất lỏng. Khoảng cách giữa các phân tử rất lớn so với kích thước của chúng nên lực tương tác giữa các phân tử rất yếu (trừ khi va chạm nhau), nên các phân tử chuyển động hoàn toàn hỗn loạn. Do đó, khối chất khí không có hình dạng và thể tích riêng mà nó có hình dạng và thể tích của bình chứa nó và có thể nén được dễ dàng.

III. Sự chuyển thể

1. Sự chuyển thể

Các chất có thể chuyển từ thể này sang thể khác. Đa số các chất ở thể rắn khi nóng lên có thể chuyển sang thể lỏng, rồi từ thể lỏng sang thể khí. Ngược lại, đa số chất khí khi lạnh đi có thể chuyển sang thể lỏng, rồi từ thể lỏng sang thể rắn. Một số chất có thể chuyển trực tiếp từ thể rắn sang thể khí và ngược lại.

Hình ảnh minh họa SGK

2. Dùng mô hình động học phân tử giải thích sự chuyển thể

Quá trình chuyển từ thể rắn sang thể lỏng của các chất gọi là sự nóng chảy.

Sự hoá hơi là quá trình chuyển từ thể lỏng sang thể khí. Sự hoá hơi thể hiện qua hai hình thức đó là sự bay hơi và sự sôi.

Hình ảnh minh họa SGK

Sự hoá hơi xảy ra trên bề mặt chất lỏng gọi là sự bay hơi. Sự bay hơi xảy ra ở nhiệt độ bất kì và luôn kèm theo sự ngưng tụ.

Tốc độ bay hơi của chất lỏng càng nhanh nếu diện tích mặt thoáng càng lớn, tốc độ gió càng lớn, nhiệt độ càng cao, và độ ẩm không khí càng thấp.

Sự hoá hơi xảy ra ở bên trong và trên bề mặt chất lỏng gọi là sự sôi. Sự sôi xảy ra ở nhiệt độ sôi.

Nhiệt độ sôi của chất lỏng phụ thuộc áp suất khí trên mặt thoáng và bản chất của chất lỏng. Trong suốt thời gian sôi, nhiệt độ chất lỏng không thay đổi.

🌟 Em đã học (Ghi nhớ kiến thức trọng tâm)

  • Các chất được cấu tạo từ các hạt riêng biệt là nguyên tử, phân tử chuyển động hỗn loạn không ngừng.
  • Ba thể cơ bản của chất gồm thể rắn (có thể tích và hình dạng xác định), thể lỏng (có thể tích xác định, hình dạng của bình chứa), và thể khí (không có thể tích và hình dạng xác định).
  • Sự chuyển thể của các chất bao gồm: Nóng chảy - đông đặc, hóa hơi (bay hơi & sôi) - ngưng tụ, thăng hoa - ngưng kết.
  • Trong suốt quá trình chuyển thể của chất tinh khiết (nóng chảy, sôi), nhiệt độ của hệ không thay đổi mặc dù hệ vẫn liên tục nhận hoặc tỏa nhiệt lượng.

Câu hỏi ôn tập & củng cố bài học

Câu 1: Nêu nội dung cốt lõi của mô hình động học phân tử về cấu trúc của chất?
Mô hình động học phân tử khẳng định: 1) Các chất được cấu tạo từ các hạt riêng biệt gọi là nguyên tử, phân tử. 2) Các phân tử chuyển động hỗn loạn không ngừng; nhiệt độ càng cao thì tốc độ chuyển động nhiệt càng nhanh. 3) Giữa các phân tử đồng thời tồn tại lực hút và lực đẩy phân tử; độ lớn của các lực này phụ thuộc vào khoảng cách giữa các phân tử.
Câu 2: So sánh đặc điểm cấu trúc và chuyển động phân tử ở thể rắn, thể lỏng và thể khí?
Ở thể rắn: Khoảng cách phân tử rất nhỏ, lực tương tác rất mạnh, các phân tử chỉ dao động quanh vị trí cân bằng cố định xác định →\to thể rắn có thể tích và hình dạng riêng xác định. Ở thể lỏng: Khoảng cách lớn hơn thể rắn, lực tương tác yếu hơn, phân tử dao động quanh VTCB nhưng VTCB này có thể dịch chuyển →\to thể lỏng có thể tích xác định nhưng hình dạng phụ thuộc bình chứa. Ở thể khí: Khoảng cách phân tử rất lớn (gấp hàng chục lần kích thước phân tử), lực tương tác rất yếu (coi như không đáng kể trừ khi va chạm), chuyển động hoàn toàn hỗn loạn →\to chất khí không có thể tích và hình dạng riêng, luôn chiếm toàn bộ thể tích bình chứa.
Câu 3: Phân biệt chất rắn kết tinh và chất rắn vô định hình về cấu trúc và tính chất nhiệt?
Chất rắn kết tinh (như muối ăn, kim loại, thạch anh) có cấu trúc mạng tinh thể tuần hoàn trong không gian, có nhiệt độ nóng chảy xác định và có tính dị hướng (hoặc đẳng hướng với đa tinh thể). Chất rắn vô định hình (như thủy tinh, hắc ín, nhựa đường) không có cấu trúc tinh thể, không có nhiệt độ nóng chảy xác định (khi đun nóng thì mềm dần rồi chuyển sang thể lỏng trong một khoảng nhiệt độ) và luôn có tính đẳng hướng.
Câu 4: Tại sao trong quá trình nóng chảy hoặc sôi của chất tinh khiết, nhiệt độ của hệ không đổi mặc dù vẫn liên tục nhận nhiệt lượng?
Vì toàn bộ nhiệt lượng mà hệ nhận được lúc này không dùng để tăng động năng chuyển động nhiệt của phân tử (do đó nhiệt độ không tăng), mà được sử dụng để thắng lực liên kết phân tử, phá vỡ cấu trúc mạng tinh thể (khi nóng chảy) hoặc thắng lực hút phân tử đưa các phân tử ra xa nhau vào pha hơi (khi sôi), làm tăng thế năng tương tác giữa các phân tử.

Đề luyện tập theo bài