MasterSchool

Vật lý lớp 12 · KNTT · Chương 4

Lý thuyết Vật lí 12 Bài 23: Hiện tượng phóng xạ

Chương 4: Vật lí hạt nhân · Kết nối tri thức với cuộc sống

Với tóm tắt lý thuyết Vật Lí 12 Bài 23: Hiện tượng phóng xạ sách Kết nối tri thức hay nhất, chi tiết sẽ giúp học sinh lớp 12 nắm vững kiến thức trọng tâm, ôn luyện để học tốt môn Vật Lí 12.

Lớp

I. Hiện tượng phóng xạ

1. Định nghĩa hiện tượng phóng xạ

- Hiện tượng một hạt nhân không bền vững tự phát biến đổi thành một hạt nhân khác đồng thời phát ra tia phóng xạ gọi là hiện tượng phóng xạ. Quá trình biến đổi hạt nhân này còn được gọi là phân rã phóng xạ hoặc phân rã hạt nhân. Hạt nhân không bền vững, tự phân rã được gọi là hạt nhân mẹ. Hạt nhân được tạo thành, bền vững hơn được gọi là hạt nhân con.

- Hiện tượng phóng xạ là quá trình tự phát, không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như nhiệt độ, áp suất, …

2. Tính ngẫu nhiên của phân rã phóng xạ

Hình ảnh minh họa SGK

Bằng nhiều thí nghiệm khác nữa, người ta đã thấy quá trình phóng xạ là ngẫu nhiên. Với một hạt nhân phóng xạ cho trước, thời điểm phân rã của nó là không xác định.

3. Các dạng phóng xạ

Hình ảnh minh họa SGK

a) Phóng xạ alpha
a) Phóng xạ alpha

Tia phóng xạ α là hạt nhân 24He24He phóng ra từ hạt nhân mẹ có tốc độ khoảng 2.107 m/s. Tia α làm ion hoá mạnh môi trường vật chất, do đó nó chỉ đi được khoảng vài cm trong không khí và dễ dàng bị tờ giấy dày 1 mm chặn lại.

ZAX→ Z−2A−4Y+ 24HeZAX \to \text{ } Z-2A-4Y+\text{ } 24He

b) Phóng xạ beta

Phóng xạ β gồm 2 loại: phóng xạ β- và phóng xạ β+. Hai loại tia phóng xạ β- và β+ có bản chất tương ứng là hạt electron ( −10e-10e ) và hạt positron(*) ( 10e10e ) phóng ra từ hạt nhân mẹ với tốc độ xấp xỉ tốc độ ánh sáng trong chân không. Tia β làm ion hoá môi trường vật chất ở mức trung bình, nó có thể xuyên qua tờ giấy khoảng 1 mm nhưng có thể bị chặn bởi tấm nhôm dày khoảng 1 mm.

Phóng xạ β-: ZAX→ Z+1AY+ −10e+ν ZAX \to \text{ } Z+1AY+\text{ } -10e+ν~

Phóng xạ β+: ZAX→ Z−1AY+ 10e+νZAX \to \text{ } Z-1AY+\text{ } 10e+ν

c) Phóng xạ gamma

Một số hạt nhân con sau quá trình phóng xạ α hay β được tạo ra trong trạng thái kích thích ZAY∗ZAY^{*} . Khi đó, xảy ra tiếp quá trình hạt nhân đó chuyển từ trạng thái kích thích về trạng thái có mức năng lượng thấp hơn ZAYZAY và phát ra bức xạ điện từ γ có bước sóng rất ngắn, cỡ nhỏ hơn 10-11 m, còn gọi là tia γ. Các tia γ có năng lượng cao, dễ dàng xuyên qua các vật liệu thông thường, ví dụ lớp bê tông dày hàng chục cm. Muốn cản trở được tia γ, người ta thường dùng vật liệu có mật độ vật chất lớn và bề dày lớn, ví dụ tấm chì dày khoảng 10 cm.

ZAY∗→ ZAY+ γZAY^{*} \to \text{ } ZAY+ \text{ } γ

II. Định luật phóng xạ. Độ phóng xạ

1. Định luật phóng xạ

Số hạt nhân chất phóng xạ của một mẫu giảm theo quy luật hàm số mũ: N=N02−tT=N0e−λtN=N_{0}2^{-\frac{t}{T}}=N_{0}e^{-\lambda t}

Hình ảnh minh họa SGK

2. Độ phóng xạ

Để đặc trưng cho tính phóng xạ mạnh hay yếu của một lượng chất phóng xạ, người ta dùng đại lượng độ phóng xạ (hay hoạt độ phóng xạ), kí hiệu là H, có giá trị bằng số hạt nhân phân rã trong một giây.

Đơn vị độ phóng xạ là becoren (được lấy theo tên nhà bác học Becquerel), kí hiệu là Bq.

1 Bq = 1 phân rã/1 giây

Ngoài ra còn sử dụng đơn vị Ci: 1 Ci = 3,7.1010 Bq

Độ phóng xạ H được xác định bằng số hạt nhân chất phóng xạ phân rã trong một giây và liên hệ với hằng số phóng xạ và số hạt nhân chất phóng xạ trong mẫu theo công thức: H=λN.H=\lambda N.

Độ phóng xạ của một mẫu giảm theo quy luật hàm số mũ: H=H02−tT=H0e−λt.H=H_{0}2^{-\frac{t}{T}}=H_{0}e^{-\lambda t}.

III. Ảnh hưởng của tia phóng xạ. Biển cảnh báo phóng xạ

1. Ảnh hưởng của tia phóng xạ

Các tia phóng xạ có thể gây tác động mạnh tới tế bào của con người cũng như sinh vật. Vì vậy khi bị phơi nhiễm tia phóng xạ với liều lượng lớn trong một khoảng thời gian dài, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ cũng như di truyền.

Trong một số trường hợp, với nguồn phóng xạ mạnh dù chỉ tiếp xúc thời gian ngắn nhưng cảm giác bỏng rát xuất hiện ngay, còn gọi là bỏng phóng xạ. Sau đó, nạn nhân xuất hiện các triệu chứng buồn nôn, nôn mửa, suy nhược thần kinh, ... Các triệu chứng này còn gọi là nhiễm độc phóng xạ, ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ, gây đột biến trong di truyền, ung thư, ...

Hình ảnh minh họa SGK

2. Biển cảnh báo phóng xạ

Biển cảnh báo phóng xạ, được đặt tại khu vực lắp đặt thiết bị phát ra tia phóng xạ và nguồn phóng xạ, hoặc trên chính thiết bị và vật chứa của nguồn phóng xạ. Mục đích cảnh báo mọi người không nên tiếp cận hoặc làm hỏng thiết bị hoặc vật chứa thiết bị phóng xạ, vì điều này rất nguy hiểm.

Hình ảnh minh họa SGK

IV. Nguyên tắc an toàn phóng xạ

- Giữ khoảng cách đủ xa đối với nguồn phóng xạ. Nếu tăng gấp đôi khoảng cách từ chúng ta đến nguồn phóng xạ thì liều hấp thụ phóng xạ giảm đi 4 lần.

- Cần sử dụng các tấm chắn nguồn phóng xạ đủ tốt. Tấm chắn càng dày và có khối lượng riêng càng lớn sẽ càng cản trở mạnh tia phóng xạ.

- Cần giảm thiểu thời gian phơi nhiễm phóng xạ.

Hình ảnh minh họa SGK

🌟 Em đã học (Ghi nhớ kiến thức trọng tâm)

  • Phóng xạ là quá trình phân rã tự phát của một hạt nhân không bền vững (hạt nhân mẹ) biến đổi thành hạt nhân khác (hạt nhân con) và phát ra các tia bức xạ ion hóa. Phóng xạ là hiện tượng hoàn toàn tự phát và ngẫu nhiên.
  • Các loại tia phóng xạ chính: Tia α\alpha (hạt nhân 24He^4_2\text{He} mang điện +2e+2e), Tia β−\beta^- (electron 0−1e^{0 -1}e), Tia β+\beta^+ (positron 0+1e^{0 +1}e), Tia γ\gamma (sóng điện từ bước sóng cực ngắn mang năng lượng cao, đâm xuyên mạnh nhất).
  • Định luật phóng xạ: Số hạt nhân mẹ chưa phân rã còn lại theo thời gian: N(t)=N02−t/T=N0e−λtN(t) = N_0 2^{-t/T} = N_0 e^{-\lambda t}, với T=ln⁡2λ≈0,693λT = \frac{\ln 2}{\lambda} \approx \frac{0,693}{\lambda} là chu kì bán rã, λ\lambda là hằng số phóng xạ.
  • Độ phóng xạ H(t)=λN(t)=H02−t/TH(t) = \lambda N(t) = H_0 2^{-t/T}, đơn vị Becquerel (Bq\text{Bq}) với 1 Bq=1 phaˆn ra˜/giaˆy1\text{ Bq} = 1\text{ phân rã/giây}, đơn vị ngoài hệ SI là Curie (1 Ci=3,7×1010 Bq1\text{ Ci} = 3,7 \times 10^{10}\text{ Bq}).

Câu hỏi ôn tập & củng cố bài học

Câu 1: Định nghĩa hiện tượng phóng xạ và nêu các đặc điểm bản chất của nó?
Phóng xạ là quá trình phân rã tự phát của một hạt nhân nguyên tử không bền vững (hạt nhân mẹ) để biến đổi thành một hạt nhân khác (hạt nhân con) đồng thời phát ra các bức xạ ion hóa gọi là tia phóng xạ. Đặc điểm bản chất: Hiện tượng phóng xạ hoàn toàn mang tính tự phát và ngẫu nhiên; tốc độ phân rã không phụ thuộc vào bất kì tác nhân vật lí hay hóa học nào của môi trường ngoài (nhiệt độ, áp suất, trạng thái hóa học).
Câu 2: So sánh bản chất và khả năng đâm xuyên của 3 loại tia phóng xạ chính (α,β,γ\alpha, \beta, \gamma)?
Tia α\alpha: Là dòng hạt nhân Heli (24He^4_2\text{He}), mang điện +2e+2e, tốc độ ≈20.000 km/s\approx 20.000\text{ km/s}, ion hóa chất khí rất mạnh nhưng khả năng đâm xuyên yếu nhất (bị tờ giấy dày hoặc vài cm không khí cản lại). Tia β\beta (gồm β−\beta^- là electron và β+\beta^+ là positron): Mang điện ±e\pm e, tốc độ tiệm cận ánh sáng, đâm xuyên mạnh hơn tia α\alpha (xuyên qua vài mm nhôm). Tia γ\gamma: Là sóng điện từ có bước sóng cực ngắn (<10−11 m< 10^{-11}\text{ m}), không mang điện, ion hóa yếu nhất nhưng có khả năng đâm xuyên khủng khiếp nhất (cần lớp chì dày hàng chục cm hoặc bê tông cốt thép dày hàng mét để cản).
Câu 3: Phát biểu định luật phóng xạ và viết công thức chu kì bán rã?
Định luật phóng xạ: Trong quá trình phân rã, số lượng hạt nhân phóng xạ chưa phân rã giảm dần theo thời gian theo hàm số mũ: N(t)=N02−t/T=N0e−λtN(t) = N_0 2^{-t/T} = N_0 e^{-\lambda t}. Khối lượng chất phóng xạ còn lại: m(t)=m02−t/T=m0e−λtm(t) = m_0 2^{-t/T} = m_0 e^{-\lambda t}. Chu kì bán rã TT là khoảng thời gian sau đó một nửa số hạt nhân của chất phóng xạ đó bị phân rã: T=ln⁡2λ≈0,693λT = \frac{\ln 2}{\lambda} \approx \frac{0,693}{\lambda}, với λ\lambda là hằng số phóng xạ.
Câu 4: Nêu nguyên tắc định tuổi các mẫu cổ vật hữu cơ bằng phương pháp đồng vị phóng xạ carbon 614C^{14}_6\text{C}?
Khi sinh vật còn sống, qua quá trình trao đổi chất và quang hợp, tỉ lệ giữa đồng vị phóng xạ 614C^{14}_6\text{C} (chu kì bán rã T≈5730 na˘mT \approx 5730\text{ năm}) và đồng vị bền 612C^{12}_6\text{C} trong cơ thể luôn được duy trì không đổi bằng tỉ lệ trong khí quyển. Khi sinh vật chết, sự trao đổi chất ngừng lại, lượng 614C^{14}_6\text{C} giảm dần theo định luật phóng xạ. Bằng cách đo tỉ số 614C/612C^{14}_6\text{C}/^{12}_6\text{C} còn lại trong mẫu gỗ, xương cổ, ta có thể tính chính xác niên đại của mẫu vật.

Đề luyện tập theo bài