MasterSchool

Vật lý lớp 12 · KNTT · Chương 2

Lý thuyết Vật lí 12 Bài 8: Mô hình động học phân tử chất khí

Chương 2: Khí lí tưởng · Kết nối tri thức với cuộc sống

Với tóm tắt lý thuyết Vật Lí 12 Bài 8: Mô hình động học phân tử chất khí sách Kết nối tri thức hay nhất, chi tiết sẽ giúp học sinh lớp 12 nắm vững kiến thức trọng tâm, ôn luyện để học tốt môn Vật Lí 12.

Lớp

I. Chuyển động và tương tác của các phân tử chất khí

1. Chuyển động Brown trong chất khí

- Chuyển động Brown là chuyển động ngẫu nhiên của các hạt rất nhẹ trong chất lỏng hoặc chất khí do sự va chạm với các phân tử khác và với thành bình chứa.

- Quỹ đạo của chuyển động Brown là những đường gấp khúc bất kì.

- Chuyển động Brown chứng tỏ các phân tử chất khí chuyển động hỗn loạn, không ngừng. Nhiệt độ càng cao, các phân tử khí chuyển động càng nhanh.

Khi chuyển động hỗn loạn, các phân tử khí va chạm vào nhau và va chạm thành bình nên gây ra áp suất lên thành bình chứa. Khi nhiệt độ tăng, áp suất khí tác dụng lên thành bình tăng. Khi đó tốc độ trung bình của các phân tử được xác định: v¯=v1+v2+…+vnnv¯=\frac{v1+v2+…+vn}{n}

2. Tương tác giữa các phân tử khí

Giữa các phân tử khí cũng có lực đẩy và lực hút, gọi chung là lực liên kết. Khoảng cách giữa các phân tử ở thể khí rất lớn so với ở thể lỏng và thể rắn nên lực liên kết giữa các phân tử ở thể khí rất yếu so với ở thể lỏng và thể rắn.

II. Mô hình động học phân tử chất khí

Thuyết động học phân tử chất khí hay còn gọi là mô hình động học phân tử chất khí gồm những nội dung chính sau:

• Chất khí gồm tập hợp rất nhiều các phân tử có kích thước rất nhỏ so với khoảng cách giữa chúng.

• Các phân tử khí luôn chuyển động hỗn loạn, không ngừng. Nhiệt độ càng cao, các phân tử khí chuyển động càng nhanh.

• Khi chuyển động hỗn loạn, các phân tử khí va chạm vào nhau và va chạm thành bình nên gây ra áp suất lên thành bình chứa.

Từ thuyết động học phân tử chất khí ta thấy các phân tử di chuyển theo đường thẳng và chỉ thay đổi hướng khi chúng va chạm với các phân tử khác hoặc với thành bình chứa. Va chạm giữa các phân tử có tính đàn hồi.

III. Khí lí tưởng

1. Các phân tử khí được coi là các chất điểm, không tương tác với nhau khi chưa va chạm.

2. Các phân tử khí tương tác khi va chạm với nhau và va chạm với thành bình. Các va chạm này là va chạm hoàn toàn đàn hồi.

Mô hình trên bỏ qua thể tích của phân tử khí, bỏ qua tương tác của các phân tử khi chưa va chạm và coi va chạm là hoàn toàn đàn hồi làm cho việc mô tả các hiện tượng về chất khí trở nên đơn giản, dễ dàng. Chất khí trong mô hình trên được gọi là khí lí tưởng.

🌟 Em đã học (Ghi nhớ kiến thức trọng tâm)

  • Nội dung cơ bản của thuyết động học phân tử chất khí: Các phân tử có kích thước rất nhỏ so với khoảng cách giữa chúng; chuyển động hỗn loạn không ngừng; va chạm vào thành bình gây ra áp suất khí.
  • Mô hình khí lí tưởng: Các phân tử khí được coi là các chất điểm (bỏ qua thể tích riêng) và chỉ tương tác với nhau khi va chạm đàn hồi.
  • Khái niệm lượng chất: Số mol n=mM=NNAn = \frac{m}{M} = \frac{N}{N_A}, trong đó NA≈6,022×1023 mol−1N_A \approx 6,022 \times 10^{23}\text{ mol}^{-1} là hằng số Avogadro.
  • Ở điều kiện tiêu chuẩn (0∘C,1 atm0^\circ\text{C}, 1\text{ atm}), một mol khí lí tưởng bất kì chiếm thể tích V0≈22,4 lıˊtV_0 \approx 22,4\text{ lít} (theo chuẩn mới 25∘C,1 bar25^\circ\text{C}, 1\text{ bar} là 24,79 lıˊt24,79\text{ lít}).

Câu hỏi ôn tập & củng cố bài học

Câu 1: Trình bày các luận điểm cốt lõi của thuyết động học phân tử chất khí?
1) Chất khí được cấu tạo từ các phân tử có kích thước rất nhỏ so với khoảng cách giữa chúng. 2) Các phân tử khí chuyển động hỗn loạn không ngừng; nhiệt độ khí càng cao thì phân tử chuyển động càng nhanh. 3) Khi chuyển động hỗn loạn, các phân tử va chạm vào nhau và va chạm vào thành bình chứa; lực va chạm của vô số phân tử lên thành bình tạo nên áp suất của chất khí lên thành bình.
Câu 2: Phân biệt chất khí thực và mô hình chất khí lí tưởng?
Chất khí thực là chất khí có thật trong tự nhiên, các phân tử có kích thước xác định và giữa chúng luôn có lực tương tác phân tử (lực hút và lực đẩy). Khí lí tưởng là một mô hình đơn giản hóa trong đó: Phân tử được coi là chất điểm (thể tích riêng bằng không), và bỏ qua lực tương tác giữa các phân tử khi chúng chưa va chạm (chỉ tương tác va chạm đàn hồi tức thời). Ở điều kiện nhiệt độ phòng và áp suất thông thường, hầu hết các khí thực đều gần đúng là khí lí tưởng.
Câu 3: Khái niệm lượng chất, số mol và hằng số Avogadro được định nghĩa như thế nào?
Lượng chất được đo bằng số mol. Một mol là lượng chất chứa số hạt nguyên tử/phân tử bằng đúng số nguyên tử có trong 0,012 kg0,012\text{ kg} carbon 612C^{12}_6\text{C}, tương ứng với hằng số Avogadro NA≈6,022×1023 mol−1N_A \approx 6,022 \times 10^{23}\text{ mol}^{-1}. Mối liên hệ: Số hạt N=n⋅NA=mMNAN = n \cdot N_A = \frac{m}{M} N_A.
Câu 4: Tại sao áp suất của chất khí trong săm lốp xe đạp lại tăng lên khi để xe ngoài trời nắng?
Khi trời nắng nóng, nhiệt độ khối khí bên trong săm tăng lên. Theo thuyết động học phân tử, nhiệt độ tăng làm tăng động năng tịnh tiến trung bình và tốc độ của các phân tử khí, khiến chúng va chạm vào thành săm với tần số dày đặc hơn và với xung lượng mạnh hơn, làm áp suất khí tác dụng lên thành săm tăng vọt, có thể dẫn đến nổ lốp.

Đề luyện tập theo bài