MasterSchool

Hóa học lớp 12 · KNTT · Chương 6

Lý thuyết Hóa học 12 Bài 22: Sự ăn mòn kim loại

Chương 6: Đại cương về kim loại · Kết nối tri thức với cuộc sống

Tóm tắt lý thuyết Hóa học 12 Bài 22: Sự ăn mòn kim loại theo chương trình SGK Kết nối tri thức với cuộc sống. Hệ thống hoá toàn bộ kiến thức trọng tâm, phương trình phản ứng hóa học KaTeX chuẩn, bảng biểu trực quan và câu hỏi củng cố có lời giải chi tiết.

Lớp

I. ĂN MÒN KIM LOẠI

1. Khái niệm

Ăn mòn kim loại là sự phá huỷ kim loại hoặc hợp kim dưới tác dụng của các chất trong môi trường, trong đó kim loại bị oxi hoá.

Ví dụ:

- Thép để lâu ngoài không khí ẩm thường tạo thành gỉ sắt có màu nâu đỏ;

- Vật bằng đồng để lâu trong tự nhiên có thể tạo thành gỉ đồng màu xanh.

Hình ảnh minh họa SGK Hóa học 12

2. Các dạng ăn mòn kim loại trong tự nhiên

Tuỳ theo cơ chế của sự ăn mòn, người ta chia ăn mòn kim loại thành hai loại: ăn mòn hoá học và ăn mòn điện hoá.

a) Ăn mòn hoá học

Khi để kim loại trong không khí, có thể xảy ra hiện tượng ăn mòn hoá học. Nguyên nhân của hiện tượng trên là do xảy ra phản ứng oxi hoá - khử trực tiếp giữa kim loại với các chất oxi hoá có trong môi trường.

Ví dụ: Bộ phận của thiết bị lò đốt bằng sắt bị ăn mòn bởi khí oxygen:

Hình ảnh minh họa SGK Hóa học 12

3Fe(s) + 2O2(g) →to\overset{t^{o}}{\to}   Fe3O4(s)

b) Ăn mòn điện hoá

- Sự ăn mòn điện hoá kim loại xảy ra khi có sự tạo thành pin điện.

Ví dụ: Sự ăn mòn điện hoá kim loại trong không khí ẩm.

Trong không khí ẩm, trên bề mặt của gang thép luôn có một lớp nước mỏng đã hoà tan khí oxygen và carbon dioxide tạo thành dung dịch chất điện li. Sắt và các thành phần khác (chủ yếu là carbon) cùng tiếp xúc với dung dịch đó, tạo nên vô số pin điện hoá rất nhỏ mà anode là sắt và cathode là carbon.

Hình ảnh minh họa SGK Hóa học 12

Ở anode, xảy ra quá trình oxi hoá:

Fe(s) →\to   Fe2+(aq) + 2e

Ở cathode, xảy ra quá trình khử:

12O2(g) + H2O(l) + 2e →2OH−  (aq)\frac{1}{2}O_{2}(g) \text{~} + \text{~} H_{2}O(l) \text{~} + \text{~} 2e ~ \to 2OH^{-}_{} ~ ~ (aq)

Fe2+ tiếp tục bị oxi hoá bởi oxygen không khí, tạo thành gỉ sắt có thành phần chính là Fe2O3.nH2O.

- Điều kiện của quá trình ăn mòn điện hoá: Hai kim loại khác nhau hoặc một kim loại và một phi kim; Chúng tiếp xúc với nhau trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua dây dẫn điện và cùng tiếp xúc với một dung dịch chất điện li.

II. CHỐNG ĂN MÒN KIM LOẠI

Có hai phương pháp phổ biến bảo vệ kim loại khỏi bị ăn mòn là phương pháp điện hoá và phương pháp phủ bề mặt.

1. Phương pháp điện hoá

 Nguyên tắc bảo vệ kim loại khỏi bị ăn mòn bằng phương pháp điện hoá là gắn lên kim loại cần bảo vệ một kim loại khác hoạt động hoá học mạnh hơn. Khi đó, kim loại hoạt động hoá học mạnh hơn bị ăn mòn.

Ví dụ: Để bảo vệ tàu biển làm bằng thép, người ta gắn các tấm kẽm lên vỏ tàu (phần chìm dưới nước).

Hình ảnh minh họa SGK Hóa học 12

2. Phương pháp phủ bề mặt

Phương pháp phủ bề mặt ngăn kim loại tiếp xúc trực tiếp với môi trường bằng cách:

- Phủ kim loại cần bảo vệ bằng các kim loại khác không bị gỉ như Au, Sn, Zn.

Ví dụ: Vỏ đồng hồ mạ vàng; tráng thiếc lên lá thép (sắt tây); tráng kẽm lên lá thép (tôn).

- Phủ kim loại cần bảo vệ bằng các hợp chất vô cơ hoặc hữu cơ như sơn, dầu, mỡ,...

Ví dụ: Các đồ vật bằng sắt thường được sơn hoặc tra dầu, mỡ.

Hình ảnh minh họa SGK Hóa học 12

🌟 Em đã học (Ghi nhớ kiến thức trọng tâm)

  • Ăn mòn kim loại là sự phá hủy kim loại hoặc hợp kim do tác dụng hóa học hoặc tác dụng điện hóa của các chất trong môi trường xung quanh. Bản chất là quá trình oxi hóa kim loại: M→Mn++neM \to M^{n+} + ne.
  • Ăn mòn hóa học: Quá trình oxi hóa - khử trực tiếp giữa kim loại với các chất trong môi trường (không phát sinh dòng điện), electron chuyển trực tiếp từ kim loại sang chất oxi hóa (ví dụ ống xả xe máy bị gỉ do tiếp xúc khí O2,CO2O_2, CO_2 ở nhiệt độ cao).
  • Ăn mòn điện hóa học: Quá trình phá hủy kim loại phát sinh dòng điện khi kim loại tiếp xúc với dung dịch chất điện li. 3 điều kiện đồng thời để xảy ra ăn mòn điện hóa: 1. Hai điện cực có bản chất khác nhau (kim loại - kim loại, kim loại - phi kim như Fe - C trong gang thép); 2. Hai điện cực tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp qua dây dẫn điện; 3. Hai điện cực cùng tiếp xúc với một dung dịch chất điện li (hơi ẩm, nước mưa, nước biển). Cực âm (anode - kim loại hoạt động mạnh hơn) bị oxi hóa phá hủy; Cực dương (cathode - kim loại yếu hơn hoặc phi kim) xảy ra sự khử O2O_2 hoặc H+H^+.
  • Các biện pháp chống ăn mòn kim loại: 1. Phương pháp bảo vệ bề mặt: Cách li kim loại với môi trường bằng sơn, tráng men, bôi dầu mỡ, hoặc mạ kim loại trơ (mạ thiếc hộp sữa, mạ kẽm tôn lợp); 2. Phương pháp điện hóa (dùng vật hi sinh): Gắn các tấm kim loại có tính khử mạnh hơn (như kẽm Zn) lên bề mặt kết cấu thép (vỏ tàu biển ngâm trong nước biển, đường ống dẫn dầu bằng thép chôn dưới lòng đất), Zn đóng vai trò anode bị ăn mòn hi sinh, bảo vệ sắt thép an toàn.

Câu hỏi ôn tập & củng cố bài học

So sánh sự khác nhau cơ bản giữa ăn mòn hóa học và ăn mòn điện hóa học?
1. Phát sinh dòng điện: Ăn mòn hóa học KHÔNG phát sinh dòng điện; Ăn mòn điện hóa CÓ phát sinh dòng điện chuyển dịch electron giữa hai điện cực. 2. Cơ chế truyền electron: Trong ăn mòn hóa học, electron truyền trực tiếp từ kim loại sang chất oxi hóa môi trường; trong ăn mòn điện hóa, electron truyền từ cực âm (anode) sang cực dương (cathode) qua mạch dẫn. 3. Tốc độ ăn mòn: Ăn mòn hóa học thường diễn ra chậm ở nhiệt độ thường; ăn mòn điện hóa diễn ra rất nhanh và phổ biến gây phá hủy nghiêm trọng nhất các công trình kết cấu kim loại trong đời sống.
Giải thích cơ chế ăn mòn điện hóa của một chiếc đinh thép (hợp kim Fe - C) bị để ngoài không khí ẩm?
Đinh thép là hợp kim gồm các hạt tinh thể sắt (Fe) và than chì (C) tiếp xúc khít nhau. Không khí ẩm chứa hơi nước hòa tan khí O2O_2 và CO2CO_2 đóng vai trò là màng dung dịch chất điện li phủ lên bề mặt đinh. Thỏa mãn đủ 3 điều kiện ăn mòn điện hóa tạo thành vô số pin điện hóa vi mô: - Tại cực âm (Anode - tinh thể Fe có tính khử mạnh hơn): Sắt bị oxi hóa tan ra thành ion Fe2+Fe^{2+}, giải phóng electron: Fe→Fe2++2eFe \to Fe^{2+} + 2e - Dòng electron chuyển dịch sang tinh thể carbon. - Tại cực dương (Cathode - tinh thể Carbon): Oxygen hòa tan trong màng nước nhận electron bị khử thành ion hydroxide: O2+2H2O+4e→4OH−O_2 + 2H_2O + 4e \to 4OH^- - Trong dung dịch, ion Fe2+Fe^{2+} kết hợp với OH−OH^- tạo kết tủa trắng xanh Fe(OH)2Fe(OH)_2, chất này tiếp tục bị O2O_2 không khí oxi hóa thành Fe(OH)3Fe(OH)_3 màu nâu đỏ, rồi mất nước dần biến thành gỉ sắt (Fe2O3⋅nH2OFe_2O_3 \cdot nH_2O) xốp mềm làm phá hủy đinh thép.
Tại sao ở các vùng ven biển, các công trình sắt thép bị gỉ sét nhanh hơn rất nhiều so với vùng đồng bằng nội địa?
Không khí vùng ven biển có độ ẩm rất cao và chứa một lượng lớn các hạt muối biển (sol khí chứa ion Na+,Cl−Na^+, Cl^-) do sóng biển tung bọt tạo ra. Màng nước bám trên bề mặt sắt thép ở vùng biển trở thành dung dịch chất điện li mạnh có độ dẫn điện cực cao nhờ nồng độ ion Cl−Cl^- lớn. Độ dẫn điện của dung dịch chất điện li càng cao thì tốc độ chuyển dịch ion và tốc độ truyền electron giữa anode và cathode trong các pin điện hóa vi mô càng diễn ra mãnh liệt, thúc đẩy tốc độ ăn mòn điện hóa của sắt thép tăng vọt gấp nhiều lần so với nước ngọt ở vùng nội địa.
Tại sao người ta thường gắn các khối kẽm (Zn) vào phần vỏ tàu biển bằng thép ngâm dưới nước biển? Nêu rõ bán phản ứng xảy ra?
Đây là ứng dụng của phương pháp bảo vệ điện hóa bằng vật hi sinh: Khi gắn tấm kẽm vào vỏ tàu thép (thành phần chính là sắt Fe) và cùng ngâm trong nước biển (dung dịch chất điện li), tạo thành pin điện hóa Zn - Fe. - Vì kẽm có thế điện cực chuẩn âm hơn sắt (EZn2+/Zno=−0,76 V<EFe2+/Feo=−0,44 VE_{Zn^{2+}/Zn}^o = -0{,}76\text{ V} < E_{Fe^{2+}/Fe}^o = -0{,}44\text{ V}), kẽm đóng vai trò là cực âm (anode) và sắt đóng vai trò là cực dương (cathode). - Tại anode, kẽm có tính khử mạnh hơn sẽ ưu tiên bị oxi hóa ăn mòn hi sinh: Zn→Zn2++2eZn \to Zn^{2+} + 2e - Các electron giải phóng từ Zn chuyển sang vỏ tàu thép, biến sắt thành cathode được bảo vệ hoàn toàn không bị oxi hóa. - Định kì sau vài năm, người ta chỉ cần thay thế các khối kẽm mới bị mòn rỉ mà vỏ tàu thép vẫn giữ nguyên vẹn.

Đề luyện tập theo bài