MasterSchool

Hóa học lớp 11 · KNTT · Chương 3

Lý thuyết Hóa học 11 Bài 11: Phương pháp tách biệt và tinh chế hợp chất hữu cơ

Chương 3: Chương 3 · Kết nối tri thức với cuộc sống

Tóm tắt lý thuyết Hóa học 11 Bài 11: Phương pháp tách biệt và tinh chế hợp chất hữu cơ theo chương trình SGK Kết nối tri thức với cuộc sống. Hệ thống hoá toàn bộ kiến thức trọng tâm, phương trình phản ứng hóa học KaTeX chuẩn, bảng biểu trực quan và câu hỏi củng cố có lời giải chi tiết.

Lớp

I. Phương pháp chưng cất

1. Nguyên tắc

Chưng cất là phương pháp tách chất dựa vào sự khác nhau về nhiệt độ sôi của các chất trong hỗn hợp ở một áp suất nhất định.

2. Cách tiến hành

Chất lỏng cần tách được chuyển sang pha hơi, rồi làm lạnh cho hơi ngưng tụ, thu lấy chất lỏng ở khoảng nhiệt độ thích hợp.

3. Ứng dụng

Phương pháp chưng cất dùng để tách các chất lỏng ra khỏi hỗn hợp các chất có nhiệt độ sôi khác nhau nhằm thu được chất lỏng tinh khiết hơn.

Chú ý:

- Để tách các chất lỏng có nhiệt độ sôi khác nhau nhiều, người ta dùng phương pháp chưng cất thường.

Hình ảnh minh họa SGK Hóa học 11

Thiết bị, dụng cụ tách chất bằng phương pháp chưng cất thường

- Phương pháp chưng cất phân đoạn dùng để tách hai hay nhiều chất lỏng có nhiệt độ sôi khác nhau không nhiều và tan lẫn hoàn toàn trong nhau.

Hình ảnh minh họa SGK Hóa học 11

Thiết bị, dụng cụ tách chất bằng phương pháp chưng cất phân đoạn

- Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước dùng để tách các chất có nhiệt độ sôi cao và không tan trong nước.

Hình ảnh minh họa SGK Hóa học 11

II. Phương pháp chiết

1. Nguyên tắc

Chiết là phương pháp tách biệt và tinh chế hỗn hợp các chất dựa vào sự hoà tan khác nhau của chúng trong hai môi trường không trộn lẫn vào nhau.

Hình ảnh minh họa SGK Hóa học 11

Dụng cụ chiết

2. Cách tiến hành

- Chiết lỏng – lỏng: thường dùng để tách các chất hữu cơ hoà tan trong nước. Dùng một dung môi có khả năng hoà tan chất cần chiết, không trộn lẫn với dung môi ban đầu và có nhiệt độ sôi thấp để chiết. Sau khi lắc dung môi chiết với hỗn hợp chất hữu cơ và nước, chất hữu cơ được chuyển phần lớn sang dung môi chiết và có thể dùng phễu chiết để tách riêng dịch chiết (dung dịch chứa chất cần chiết) khỏi nước. Khi hai chất lỏng không trộn lẫn được vào nhau, chất lỏng nào có khối lượng riêng nhỏ hơn sẽ tách thành lớp ở phía trên. Bằng cách lặp lại nhiều lần như trên, ta có thể tách được gần như hoàn toàn chất hữu cơ vào dung môi chiết. Sau đó, chưng cất dung môi ở nhiệt độ và áp suất thích hợp sẽ thu được chất hữu cơ.

- Chiết lỏng – rắn: dùng dung môi lỏng hoà tan chất hữu cơ để tách chúng ra khỏi hỗn hợp rắn.

3. Ứng dụng

Phương pháp chiết lỏng – lỏng dùng để tách lấy chất hữu cơ khi nó ở dạng nhũ tương hoặc huyền phù trong nước.

Áp dụng phương pháp chiết lỏng – rắn để tách lấy chất hữu cơ ra khỏi một hỗn hợp ở thể rắn, thường được áp dụng để ngâm rượu thuốc, phân tích thổ nhưỡng, phần tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nông sản,…

III. Phương pháp kết tinh

1. Nguyên tắc

Kết tinh là phương pháp tách biệt và tinh chế hỗn hợp các chất rắn dựa vào độ tan khác nhau và sự thay đổi độ tan của chúng theo nhiệt độ.

2. Cách tiến hành

- Hoà tan chất rắn lẫn tạp chất vào dung môi để tạo dung dịch bão hoà ở nhiệt độ cao. Dung môi thường dùng là nước, ethanol, acetone, ether, ethyl acetate,... hoặc đôi khi là hỗn hợp của chúng. Dung môi cần hoà tan tốt chất cần tinh chế ở nhiệt độ cao và hoà tan kém hơn chất cần tinh chế ở nhiệt độ thấp.

- Lọc nóng loại bỏ chất không tan.

- Để nguội và làm lạnh dung dịch thu được, chất cần tinh chế sẽ kết tinh.

- Lọc để thu được chất rắn.

Hình ảnh minh họa SGK Hóa học 11

Các bước tiến hành trong phương pháp kết tinh

Thực hiện kết tinh lại nhiều lần trong cùng một dung môi hoặc các dung môi khác nhau sẽ thu được tinh thể các chất cần tinh chế.

3. Ứng dụng

Phương pháp kết tinh được dùng để tách và tinh chế các chất rắn.

IV. Sắc kí cột

1. Nguyên tắc

Sắc kí cột là phương pháp tách biệt và tinh chế hỗn hợp các chất dựa vào sự phân bố khác nhau của chúng giữa pha động và pha tĩnh.

Pha động là dung môi và dung dịch mẫu chất cần tách di chuyển qua cột. Pha tĩnh là một chất rắn có diện tích bề mặt rất lớn, có khả năng hấp phụ khác nhau các chất trong hỗn hợp cần tách, ví dụ: silica gel, aluminium oxide,... Khi dung môi chạy qua cột, các chất hữu cơ được tách ra ở từng phân đoạn.

2. Cách tiến hành

- Sử dụng các cột thuỷ tinh có chứa các chất hấp phụ dạng bột (pha tĩnh), thường là aluminium oxide, sillica gel, …

- Cho hỗn hợp cần tách lên cột sắc kí.

- Cho dung môi thích hợp chảy liên tục qua cột sắc kí. Thu các chất hữu cơ được tách ra ở từng phân đoạn khác nhau sau khi đi ra khỏi cột sắc kí.

- Loại bỏ dung môi để thu được chất cần tách.

3. Ứng dụng

Phương pháp sắc kí cột thường dùng để tách các chất hữu cơ có hàm lượng nhỏ và khó tách ra khỏi nhau.

Hình ảnh minh họa SGK Hóa học 11

Sơ đồ sắc kí cột

🌟 Em đã học (Ghi nhớ kiến thức trọng tâm)

  • Phương pháp chưng cất: Dùng để tách các chất lỏng có nhiệt độ sôi khác nhau đáng kể ra khỏi hỗn hợp. Gồm chưng cất thường, chưng cất phân đoạn và chưng cất lôi cuốn hơi nước (dùng tách tinh dầu thực vật như sả, cam, bưởi).
  • Phương pháp chiết: Dựa trên độ tan khác nhau của một chất trong hai dung môi không trộn lẫn vào nhau. Dụng cụ chính là phễu chiết (chiết lỏng - lỏng) hoặc ngâm chiết (chiết lỏng - rắn dùng ngâm rượu thuốc).
  • Phương pháp kết tinh: Dùng để tách và tinh chế chất rắn dựa trên sự biến đổi độ tan theo nhiệt độ. Hòa tan chất rắn ở nhiệt độ cao để tạo dung dịch bão hòa, sau đó làm lạnh để chất cần tinh chế kết tinh lại dưới dạng tinh thể tinh khiết.
  • Phương pháp sắc kí cột: Tách các chất dựa trên sự phân bố khác nhau của chúng giữa pha tĩnh (chất hấp phụ rắn trong cột như silica gel) và pha động (dung môi rửa giải di chuyển qua cột).

Câu hỏi ôn tập & củng cố bài học

Nguyên tắc của phương pháp chưng cất và khi nào người ta dùng chưng cất phân đoạn?
Nguyên tắc: Tách các chất lỏng dựa vào sự khác nhau về nhiệt độ sôi của các chất ở một áp suất nhất định. Khi đun sôi hỗn hợp, chất lỏng có nhiệt độ sôi thấp hơn sẽ bay hơi trước, hơi được dẫn qua ống sinh hàn làm lạnh để ngưng tụ lại thành chất lỏng tinh khiết. Chưng cất phân đoạn: Được áp dụng khi hỗn hợp gồm hai hay nhiều chất lỏng có nhiệt độ sôi gần nhau (chênh lệch dưới 25÷30∘C25 \div 30^\circ\text{C}) bằng cách lắp thêm một cột cất phân đoạn. Ví dụ kinh điển: Chưng cất cồn ethanol từ bỗng rượu lên men hoặc chưng cất phân đoạn dầu mỏ.
Mô tả nguyên tắc của phương pháp chiết lỏng – lỏng và nêu các thao tác sử dụng phễu chiết.
Nguyên tắc: Dựa vào độ tan khác nhau của chất cần tách trong hai dung môi không trộn lẫn vào nhau (thường là nước và dung môi hữu cơ như ether, hexane, chloroform). Thao tác với phễu chiết: 1. Cho hỗn hợp chất lỏng vào phễu chiết, thêm dung môi chiết thích hợp. 2. Đậy nút, lắc đều phễu chiết (thỉnh thoảng mở khóa phễu dốc ngược để xả bớt áp suất khí sinh ra). 3. Đặt phễu chiết lên giá thí nghiệm để yên cho hai lớp chất lỏng phân tách hoàn toàn theo khối lượng riêng. 4. Mở nắp trên và cẩn thận mở khóa dưới của phễu chiết để thu lấy lớp chất lỏng ở dưới, đóng khóa lại khi mặt phân cách chạm đến khóa.
Phương pháp kết tinh được thực hiện như thế nào để tinh chế một chất rắn bị lẫn tạp chất?
Quy trình kết tinh lại (recrystallization): 1. Chọn dung môi phù hợp: Chất cần tinh chế tan tốt trong dung môi khi nóng và tan rất kém khi lạnh; tạp chất không tan hoặc tan tốt ở cả nhiệt độ nóng và lạnh. 2. Hòa tan chất rắn bẩn vào một lượng tối thiểu dung môi nóng đến trạng thái bão hòa. 3. Lọc nóng dung dịch qua phễu có phễu nung để loại bỏ các tạp chất không tan. 4. Để nguội dung dịch từ từ xuống nhiệt độ phòng (hoặc ngâm trong chậu nước đá) để chất tinh khiết kết tinh chậm tạo thành các tinh thể lớn đặc trưng. 5. Lọc hút chất rắn kết tinh trên phễu Buchner, rửa bằng dung môi lạnh và sấy khô.
Tại sao phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước lại được ứng dụng rộng rãi để tách tinh dầu thực vật (như tinh dầu tràm, sả, bưởi)?
Tinh dầu thực vật có đặc tính: là chất lỏng không tan trong nước, có nhiệt độ sôi rất cao (thường trên 150÷250∘C150 \div 250^\circ\text{C}) và rất dễ bị nhiệt phân hủy, biến tính làm mất mùi hương tự nhiên nếu đun trực tiếp ở nhiệt độ cao. Khi sục luồng hơi nước sôi qua nguyên liệu thực vật, áp suất hơi tổng của hỗn hợp (nước + tinh dầu) đạt áp suất khí quyển ở nhiệt độ thấp hơn 100∘C100^\circ\text{C}. Do đó, hỗn hợp nước và tinh dầu sẽ đồng thời bay hơi ở dưới 100∘C100^\circ\text{C} mà không làm hỏng tinh dầu. Hơi ngưng tụ tạo thành hai lớp chất lỏng không tan vào nhau, sau đó dùng phễu chiết tách riêng tinh dầu nhẹ hơn nổi lên trên.

Đề luyện tập theo bài